Vạn Lý Trường Thành hay nỗi sợ mang tên “Phương Bắc”

Posted on 09/01/2012

0


620377

Gần đây, báo chí có một số bài viết phản ánh chuyện công trình “Vạn Lý Trường Thành” tại Đà Lạt. Xin có đôi lời bàn về đề tài có phần nhạy cảm này.

Dẫn lộ: Nếu hiểu được Vạn Lý Trường Thành không phải là một biểu tượng cho chiến thắng, mà là chứng tích vĩ đại nhất của một sự sợ hãi kéo dài hàng nghìn năm, chúng ta có đủ sức vượt qua nỗi sợ nào đó tiềm ẩn trong chính chúng ta với khái niệm “Phương Bắc”?

“Kẻ địch phương Bắc”! Ấy là một danh từ nhạy cảm của lịch sử mà đời sau khi nhắc tới, nhiều người lại cảm thấy một nhiệt độ khác lạ trong cơ thể mình, một cảm giác có lẽ đã di truyền từ nhiều thế hệ Việt Nam. Vậy mà nếu hỏi người Việt và người Hoa có điểm chung gì, ít nhất lại chính là danh từ đó. Phương Bắc từng là mối đe dọa lớn nhất đối với sự thái bình của “thiên triều” Trung Hoa qua nhiều thời đại.

Từ một lời “sấm ký”, nên Vạn Lý Trường Thành

Lý do để Tần Thủy Hoảng xây Vạn Lý Trường Thành bắt nguồn từ một câu “sấm” tưởng chừng vu vơ: “Vong Tần giả, Hồ dã” (Tần mất là do Hồ). Vua Tần tưởng chữ “Hồ” là chỉ giống rợ Hồ phương Bắc, bèn huy động quân lính và hàng chục vạn dân phu đi đắp dãy thành lũy trải dài phía Bắc để phòng ngự. Dù người làm mất nhà Tần hóa ra là Thái tử “Hồ” Hợi, di sản mà hoàng đế thống nhất Trung Quốc để lại cũng đã đặt nền móng cho Vạn Lý Trường Thành sau này.

Niềm úy kị của vị vua hùng mạnh nhà Tần không phải không có cơ sở.

Ngược lên trước đó vài trăm năm, triều đại thống nhất trước nhà Tần là Chu, cũng sụp đổ vì giặc phương Bắc. Vì một tiếng cười của mỹ nhân Bao Tự, Chu U Vương gây nội loạn trong triều tạo cơ hội cho Rợ Khuyễn-nhung tràn vào trung nguyên. Thời Đông Chu Liệt Quốc “phân mảnh” đất nước Trung Hoa bắt đầu như thế.

Sau nhà Tần, kẻ địch Bắc phương còn xuất hiện đều đặn và mạnh mẽ hơn, tạo nên mối đe dọa thường trực với Hán tộc. Quá nửa số vua chúa của Nam – Bắc Triều (thế kỷ V-VII), mang dòng máu “di địch” như Hung-nô hay Tiên-ti. An Lộc Sơn, người phá tan sự nghiệp sán lạn của Đường Minh Hoàng, là một người gốc Hồ.

Nhà Đường đổ, tới thời Ngũ Đại Thập Quốc (thế kỷ X) tựa như Loạn 12 sứ quân của Việt Nam, lại một lần nữa nhiều quân vương trong số đó xuất thân từ những tộc ít người như Sa-đà.

Triều đại thống nhất tiếp theo của Trung Hoa, đời Tống, tuy không sớm mất nước, nhưng cũng để lại lịch sử những giọt nước mắt hoàng gia hiếm có.

Khởi đầu là nước Liêu của người Khiết-đan. Sau thất bại trong cuộc chiến với nước này, hoàng đế nhà Tống đã phải ký hòa ước cống nạp vàng lụa, châu ngọc hàng năm và phải gọi vua Liêu là “anh”. Khi Liêu suy yếu, Tống nhân cơ hội hợp sức với nước Kim của tộc Nữ chân diệt Liêu, để rồi…thay nơi nhận cống nạp từ Liêu sang Kim. Các vua Tống có một ông “bác” mới, đó là vua Kim!

Đối phó không lại được sự chèn ép “bắt nạt” của Phương Bắc, tể tướng Vương An Thạch đã cố gắng tìm kiếm một “chiến thắng nhỏ tạo đà lập công lớn” mà cái đích chính là nước Đại Việt nhỏ bé của người “Nam man”.

Trái với tính toán của nhà cải cách đầy tham vọng họ Vương, đạo quân Tống chinh phạt Đại Việt đã thất bại thảm hại, để lại một bài thơ bất hủ “Nam đế sơn hà Nam đế cư”.

Đường lối đối ngoại yếu ớt cam chịu của nhà Tống cũng không cứu được họ trước loại “thuốc diệt cỏ bằng vó ngựa” của người Mông Cổ (Thành Cát Tư Hãn: “Vó ngựa Mông Cổ lướt tới đâu, cỏ ở đó không mọc được”). Tống sụp đổ để Trung Hoa nằm dưới “yên cương” của người Mông Cổ, những chiến binh sau này đã lĩnh tới ba bài học rằng vó ngựa lướt mượt trên cỏ chứ không thể bơi trên những hồ sen tỏa ngát hương của kinh thành Thăng Long, Đại Việt.

Nhà Minh, triều đại người Hán giành lại độc lập, đã gia cố và kiến tạo Trường Thành mang hình hài ngày nay, nhưng nỗ lực hoành tráng này của họ tỏ ra vô dụng trước sự thiện chiến từ phương Bắc. Trung Hoa một lần nữa nằm trong bàn tay sắt của một tộc người quen thuộc, vốn trước từng lập ra nước Kim. Triều Mãn Thanh do tộc Nữ chân “cạo đầu, gióc bím” dựng nên, trớ trêu thay lại là triều đại phong kiến cuối cùng trước thời cộng hòa của Trung Hoa Dân Quốc.

Khác với Việt Nam, những dân tộc từng uy hiếp và xâm lăng Trung Hoa lại là những dân tộc nhỏ hơn, thậm chí có lẽ còn không có những đặc trưng văn hóa bền bỉ như người Việt.

294854_400

Cờ Trung Quốc, bản đồ lưỡi bò, đèn lồng: Chuyện nhỏ?

Tỉnh táo khi nhìn ra thế giới, thấu đáo lúc soi rọi tâm can

Bất kỳ quốc gia nào, để đạt vị thế ngày nay, có thể đã từng phải trải qua những phút giây tủi nhục khi bị đô hộ và nỗi sợ hãi chiến tranh từ mọi hướng. Nỗi sợ càng lớn, sự phòng bị càng cẩn thận. Vạn Lý Trường Thành, nhờ nỗi sợ Phương Bắc của các “thiên tử” Trung Hoa, đã tồn tại tới giờ như một di tích biểu tượng cho đất nước này. Vạn Lý Trường Thành, ghi dấu ấn sự đe dọa hàng nghìn năm từ các dân tộc thiểu số với người Hán, lại đã trở thành một di tích vĩnh cửu của nhân loại. Trường Thành vạn dặm trập trùng hùng vĩ, qua nhiều thiên niên kỷ cũng là nơi chôn vùi thân xác vạn người cả dân lẫn lính dưới chân mình, đủ để khiến những quốc gia yêu chuộng hoà bình cảm thấy may mắn khi không phải xây những công trình như vậy. Với chừng ấy máu, mồ hôi và nước mắt, giống những Kim Tự Tháp Ai Cập, nó đã thuộc về nhân loại, thậm chí còn là kiến trúc nhân tạo hiếm hoi có thể nhìn thấy từ bên ngoài Trái Đất. Mang một tinh thần cởi mở và hội nhập, người Việt không kỳ thị những giá trị văn hóa – lịch sử mà nhân loại đã công nhận. Quan trọng là, sự công nhận đi kèm với hiểu biết thấu đáo căn nguyên.

“Bất đáo Trường Thành phi hảo hán”, nhắc tới Vạn Lý Trường Thành là nhắc tới Trung Quốc, giống như nhìn Khải Hoàn Môn là thấy Paris. Tuy nhiên, khác Trường Thành được sử dụng để phòng thủ, Khải Hoàn Môn là cổng chào đón những đoàn quân chiến thắng.

Trở lại nỗi quan ngại về sự tiêm nhiễm tới mức “phổ cập văn hóa” vật thể hay phi vật thể từ Trung Quốc, chúng ta không tranh cãi hay tìm cách phê bình những gì thuộc về lịch sử, đồng thời không quá đà trong sự bài xích. Dù bức xúc về chuyện gì, sự tỉnh táo trong nhân sinh quan vẫn rất cần thiết, khi gặp những di sản thế giới được giới thiệu tới cộng đồng (khách tham quan cũng từng thấy những di tích như Chùa Một Cột của Việt Nam được mô hình hoá trong các khu giải trí tại Trung Quốc). Điều cần nắm rõ, là có thể chấp nhận chuyện thờ Quan Công (hoặc “chơi” tượng Quan Công) chứ không thể cho phép bất kỳ ai thờ Mã Viện! Hình ảnh của dàn lính bạt ngàn biểu trưng cho những linh hồn bị chôn theo Tần Thủy Hoàng, đứng trước Trường Thành mi-ni lỡ được xây cất ở điểm du lịch giải trí nào đó, không cần phải đập bỏ. Chỉ cần một tấm biển ghi rõ nguồn gốc và quốc tịch của những pho tượng nô dịch đó. Khách tham quan sẽ hiểu những số phận nô lệ bị vùi lấp trong nấm mồ bạo chúa ấy không bao giờ là người Việt Nam.

Quan trọng hơn hết, nếu hiểu được Vạn Lý Trường Thành không phải là một biểu tượng cho chiến thắng, mà là chứng tích vĩ đại nhất của một sự sợ hãi kéo dài hàng nghìn năm, chúng ta có đủ sức vượt qua niềm sợ hãi nào đó tiềm ẩn trong chính chúng ta với khái niệm “Phương Bắc”?

NGUYÊN ANH

Chú thích: Đa số sử liệu trong bài viết tham khảo “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim, bản in 1974 và “Trung Quốc Sử Lược” của Phan Khoang, Văn Sử Học 1970.