Tranh luận nóng quanh phỏng vấn GS. Ngô Bảo Châu về trí thức

Posted on 30/01/2012

0


110812121950_ngobaochau304

GS. Ngô Bảo Châu: Bạn trẻ vẫn đầy niềm tin tương lai

“Cảm xúc mạnh nhất là niềm vui khi cảm thấy dường như mình đang mang đến cho các bạn trẻ được cái gì tốt đẹp, ít nhất là niềm tin vào một cái gì đó tốt đẹp”.

…”trước khi lên tiếng về một vấn đề nào đó, người trí thức hơn ai hết cần phải hết sức ý thức về ảnh hưởng của nó”.

Hồ Chí Minh: “Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” – “…có đôi người trí thức vì thế mà kiêu ngạo, lên mặt. Chứng kiêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn trở họ tiến bộ”.

Bài liên quan: Trí thức, hay Trí tuệ thao thức

Thứ Sáu, 20/01/2012, 05:09(GMT+7)

Giáo sư Ngô Bảo Châu trải lòng với Tuổi Trẻ Cuối Tuần những suy nghĩ của ông sau một năm trở về đầy bận rộn…

Giải pháp có sẵn ở điểm bế tắc

* Thưa giáo sư, lần đầu tiên kể từ khi thành danh ở xứ người, năm qua giáo sư đã dành thời gian làm việc tại quê nhà suốt ba tháng. Trong ba tháng đó, có gì làm giáo sư thất vọng hay ngược lại, giáo sư có điều gì để hi vọng?

– Giáo sư Ngô Bảo Châu: Không có gì phải thất vọng đâu chị, mặc dù khi tôi về mọi việc thật ngổn ngang. Tháng 6-2011, bộ máy hành chính của Viện Nghiên cứu cao cấp về toán mới bắt đầu hoạt động. Khi ta muốn xây dựng một cái gì từ con số không thì khó khăn là tất yếu. Giáo sư Lê Tuấn Hoa, giám đốc điều hành của viện và tôi đã xác định trước là mình phải rất cố gắng trong giai đoạn này.

Hi vọng thì nhiều. Qua dịp hè vừa rồi, tôi cảm thấy sự ủng hộ của Chính phủ dành cho viện là tương đối chắc chắn. Tuy những khó khăn mang tính chất hành chính thì vẫn muôn hình vạn vẻ, nhưng tôi hi vọng giai đoạn này cũng sẽ chóng kết thúc để năng lượng được dồn vào những việc thật sự bổ ích là làm khoa học.

Cái không dễ chút nào của chúng tôi là việc giải thích với các bộ có chức năng rằng khoa học thật sự, đặc biệt là khoa học cơ bản, rất khó làm được trên nguyên tắc đơn đặt hàng. Vai trò của viện là nhìn thấy những nhóm nghiên cứu mới có tiềm năng, hỗ trợ họ về cơ sở vật chất, môi trường làm việc. Tôi rất hi vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều nhà khoa học chủ động đến với viện với những dự định mà mình ấp ủ.

Nói như vậy không có nghĩa là Viện Nghiên cứu cao cấp về toán không chú trọng những đơn đặt hàng nghiên cứu toán ứng dụng. Đây là một hướng mà chúng tôi mong muốn sẽ làm được ngày một nhiều trong tương lai.

* Không chỉ các bạn trẻ trong nước đang chờ mong nhiều ở giáo sư mà nhiều bạn trẻ đang làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài cho biết họ hi vọng Viện Nghiên cứu cao cấp về toán sẽ là mồi nhóm để thổi bùng ngọn lửa đam mê khoa học trong giới nghiên cứu, từ đó thay đổi môi trường làm việc trong các trường đại học. Giáo sư nghĩ sao?

– Tôi nghĩ rằng ngọn lửa đam mê khoa học đã có sẵn trong nhiều bạn trẻ rồi. Vấn đề là làm thế nào biến những người mang ngọn lửa đam mê ấy thành những nhà khoa học chuyên nghiệp. Tôi hi vọng Viện Nghiên cứu cao cấp về toán sẽ làm được việc đó, đầu tiên là với toán, toán ứng dụng, sau đó là những ngành khoa học có liên quan đến toán như khoa học máy tính, vật lý lý thuyết. Nhưng với quy mô nhỏ của viện, chúng ta không thể chờ đợi nó giải quyết mọi vấn đề (rất nhiều) của khoa học ViệtNam.

Nếu ta muốn thật sự thay đổi diện mạo của khoa học Việt Nam, theo tôi, cái cần làm nhất (mà chắc ai cũng biết) là đặt chất lượng nghiên cứu khoa học lên như một nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của các trường đại học. Tất nhiên, nếu tính chất ưu tiên hàng đầu không phải là nói suông thì sẽ kéo theo nhiều chính sách khác.

Nói đến chuyện thay đổi chính sách là tôi lại băn khoăn. Hình như cái mà ta làm cho đến nay là thấy cái gì chưa ổn thì ta sửa lại, sắp xếp lại, mà ít để ý đến sự vận động tự nhiên của cuộc sống.

* Giáo sư có thể giải thích rõ hơn nhận xét này?

– Đơn cử hai vấn đề có tính thời sự hiện nay là việc phát triển mạng lưới đại học và lương giáo viên. Căn cứ vào tỉ lệ số lượng sinh viên trên tổng số người ở độ tuổi đi học, ta nhận thấy ViệtNamcó tỉ lệ rất thấp so với các nước khác, đã phát triển hoặc đang phát triển. Ta suy ra rằng cần phải có thêm bao nhiêu sinh viên, mở thêm bao nhiêu trường đại học.

Câu chuyện này thoạt nghe thì có vẻ rất đơn giản, mạch lạc. Cũng giống như lương giáo viên, ai cũng thấy là rất thấp, không đủ để giáo viên tái tạo sức lao động, vì vậy cần phải tăng lương cho giáo viên và công nhân viên chức nói chung. Đặt ra vấn đề như vậy là rất đúng rồi, nhưng phương pháp luận trong việc giải quyết vấn đề thì có thể chưa ổn.

Thay vì ồ ạt mở thêm trường đại học, nâng cấp cao đẳng lên đại học, hoặc là tăng lương công chức một cách đồng loạt, nên chăng coi đó như là một xu hướng để nhân cái đà đó mà cải thiện chất lượng các trường, cải thiện năng suất và chất lượng lao động của công chức nhà nước?

Nói cách khác, những cái bất hợp lý hiện tại có thể làm đòn bẩy cho tương lai, làm điểm tựa cho những vận động tích cực của xã hội. Tôi cũng hiểu là bàn chung chung như thế này thì dễ, làm cụ thể như thế nào thì khó hơn nhiều. Nhưng rõ ràng những biện pháp thuần túy mang tính hành chính sẽ làm triệt tiêu cái đòn bẩy, lợi thế duy nhất của sự bất hợp lý.

Trong chuyện tăng lương cũng vậy. Tôi cảm thấy hình như việc tăng lương đồng loạt cho viên chức không cải thiện mức sống của họ mà chỉ làm tăng lạm phát. Chính phủ có thể tác động lên thu nhập của giáo viên bằng những quy định cởi mở và minh bạch hơn.

Tôi lấy ví dụ chuyện chạy trường mà ai cũng biết. Liệu có thể cho phép một số trường tốt có một cơ số học sinh trái tuyến với quy định minh bạch mức lệ phí, có thể rất cao cho học sinh trái tuyến? Lệ phí được thu một cách minh bạch có thể sử dụng trả một mức phụ cấp cho giáo viên một cách minh bạch. Phụ cấp có thể thấp, cao hoặc rất cao tùy thuộc vào năng lực của giáo viên. Câu chuyện này thực chất đang xảy ra trong thực tế nhưng dưới những hình thức không minh bạch. Nếu có quy định rõ ràng, Nhà nước cũng sẽ có thêm phương tiện để điều chỉnh.

Không ai độc quyền chân lý

* Gần đây phong trào phản biện của giới trí thức ngày càng sôi nổi. Thậm chí người ta còn cho rằng người lao động trí óc sẽ chưa đạt tầm của một trí thức nếu chỉ biết làm công việc chuyên môn của mình mà chưa bộc lộ được năng lực phản biện xã hội. Giáo sư suy nghĩ thế nào về trách nhiệm phản biện xã hội của giới trí thức cũng như vai trò của giới trí thức trong xã hội?

– Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”?

Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.

Mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.

Những người có học, có tri thức thật ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia việc phản biện xã hội. Học hàm, học vị không thể đảm bảo rằng cái anh nói ra là mặc nhiên đúng. Với thói quen làm việc khoa học của mình, cái mà anh có thể làm là đưa ra những lập luận vững chắc và có tính thuyết phục. Nhà lãnh đạo văn minh, có bản lĩnh sẽ biết lắng nghe những lập luận đó. Họ có thể làm theo hoặc không làm theo kết luận của anh. Trong trường hợp họ không làm theo, vẫn dưới giả thiết là lãnh đạo văn minh và có bản lĩnh, lãnh đạo sẽ phải đưa ra những lập luận ít nhất cũng vững chắc bằng những lập luận của anh để bảo vệ quyết định của mình.

Tôi quan niệm vai trò của trí thức là như vậy, anh ta có vai trò gây sức ép lên người lãnh đạo, nhưng cũng như lãnh đạo, anh ta không độc quyền chân lý.

* Giáo sư có nói cần khuyến khích mọi thành phần trong xã hội phát biểu ý kiến của mình và lãnh đạo phải lắng nghe tất cả ý kiến đó. Nhưng điều quan trọng là cuối cùng lãnh đạo cần phải có một quyết định, vậy việc quyết định nên căn cứ vào đâu?

– Nếu có một thuật toán để ra quyết định trong mọi trường hợp thì chắc không cần đến lãnh đạo nữa mà thay bằng một cái máy tính. Người lãnh đạo có bản lĩnh sẽ có những hành động nhất quán, chứ không được chăng hay chớ. Đi cùng với sự nhất quán là tính chủ quan, ở đây nếu lắng nghe ý kiến phản biện, người lãnh đạo sẽ tránh được những sai lầm không thể cứu vãn. Theo tôi, phẩm chất quan trọng nhất của người lãnh đạo là tính lương thiện, ít nhất là lương thiện vừa đủ để không tự lừa mình bằng những điều viển vông và không tự bao biện cho những sai lầm của mình.

* Để tận dụng được khả năng suy nghĩ của trí thức, lãnh đạo nên chăng chia sẻ thông tin với họ để nhận được lời tư vấn tốt nhất trước khi đưa ra quyết định?

– Đối với người lãnh đạo, chia sẻ thông tin là một việc khó, như từ bỏ một phần quyền lực của mình. Thông tin hoàn toàn mở, anh lãnh đạo sẽ phải tranh luận với anh trí thức trong tình huống “cân bằng vũ trang” và chưa chắc anh lãnh đạo đã thắng.

Nhưng thật ra cởi mở thông tin, tranh luận với trí thức, với những người nằm ngoài bộ máy chính là một cách tiếp năng lượng cho anh lãnh đạo, vẫn với giả thiết lãnh đạo văn minh và có bản lĩnh. Để làm được việc, anh lãnh đạo luôn phải phụ thuộc vào bộ máy của mình. Nếu không cởi mở, dừng tranh luận, những quyết định của anh sẽ dần dần chịu ảnh hưởng của bộ máy, phục vụ lợi ích của bộ máy chứ không ưu tiên phục vụ xã hội nữa.

* Năm qua là năm có nhiều hoạt động phản biện của giới trí thức trong nước cũng như ngoài nước. Giáo sư đánh giá thế nào về các hoạt động này? Là một trí thức, giáo sư có muốn đóng góp tiếng nói của mình vào trào lưu chung đó?

– Cá nhân tôi thường tránh bàn luận các vấn đề mà tôi không biết rõ. Tôi quan tâm nhiều hơn tới những lĩnh vực mà tôi có thể trực tiếp tham gia hành động thay vì chỉ nêu ý kiến. Nhưng tôi cho rằng việc đưa ra các phản biện có lập luận chặt chẽ là những đóng góp lớn cho xã hội, cho đất nước của giới trí thức. Tuy nhiên, trước khi lên tiếng về một vấn đề nào đó, người trí thức hơn ai hết cần phải hết sức ý thức về ảnh hưởng của nó.

* Cảm ơn giáo sư!

————————

* Mùa hè 2011, giáo sư dành nhiều thời gian để giao lưu với giới trẻ nhiều tỉnh thành. Những cuộc giao lưu đó mang đến cho giáo sư cảm xúc như thế nào và các bạn trẻ ấy có tạo được những ấn tượng đặc biệt với giáo sư?– Cảm xúc mạnh nhất là niềm vui khi cảm thấy dường như mình đang mang đến cho các bạn trẻ được cái gì tốt đẹp, ít nhất là niềm tin vào một cái gì đó tốt đẹp.Ấn tượng tích cực nhất tôi có được trong những buổi gặp gỡ đó là tính hướng thiện của các bạn trẻ. Còn có một sự khác biệt tương đối rõ nét giữa những người trưởng thành mà tôi quen biết với các bạn trẻ mà tôi gặp trong các buổi giao lưu.Nếu như nhiều người tôi quen, những người có vị trí xã hội, thành công trong sự nghiệp hoặc đơn giản là rất giàu, có một cái nhìn rất bi quan về thực tế xã hội thì các bạn trẻ vẫn tràn trề lạc quan và đầy niềm tin vào tương lai.

THƯ HIÊN

——————————————————————————————————-

NHỮNG COMMENT ĐÁNG ĐỌC

GS. Nguyễn Minh Thuyết nói về “trí thức trùm chăn”

31/01/2012 08:56:27

Trong cuộc trả lời báo chí mới đây, GS Ngô Bảo Châu đưa ra quan điểm riêng về trí thức. Ông cho rằng, “giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội”.

Đã có nhiều ý kiến trái chiều liên quan đến quan điểm này. Chúng tôi có cuộc trò chuyện cùng GS. Nguyễn Minh Thuyết nhằm cung cấp thêm cho độc giả một góc nhìn nữa về trí thức.

 

GS Nguyễn Minh Thuyết

Phản biện xã hội không phải tiêu chí của riêng trí thức!

Trí thức không nhất thiết phải là người đưa ra phản biện xã hội. Tuy nhiên, họ là những người hiểu biết, nhạy cảm thì việc đưa ra phản biện là điều cần thiết và cần được khuyến khích. Có điều, xã hội ta chưa cởi mở về tư tưởng. Xã hội đó là dở chứ không phải là hay. Phản biện đâu phải chỉ có chê? Nếu chỉ thích nghe khen thì không ổn”, GS Nguyễn Minh Thuyết.

Thưa ông, trong cuộc trả lời báo chí mới đây, GS Ngô Bảo Châu cho rằng không thể “coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức””, và “giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội”. Quan điểm của ông thế nào về điều này?
Trước hết, tôi cho rằng, chúng ta cần tôn trọng tự do ngôn luận của mỗi người. Thứ nữa, ý kiến bàn về trí thức hiện nay chỉ thể hiện những quan điểm cá nhân, thường xuất phát từ hoạt động, kinh nghiệm thực tế, thậm chí kỳ vọng của mỗi người; trong khi định nghĩa về trí thức rất khó vì trí thức là một tập hợp mở, chứ không phải là một giai cấp như nông dân, công nhân.
Tôi đồng tình với GS Châu rằng “trí thức là những người hoạt động trí óc”, nhưng nói thế cô đọng quá. Tôi hiểu trí thức là những người lao động trí óc chuyên nghiệp mà sản phẩm của họ mang tính sáng tạo cao. Trí thức là người có nhận thức sâu sắc, có tư duy độc lập, sáng tạo nên thường rất nhạy cảm trước các vấn đề. Hiếm có trường hợp nào mà trong lúc xã hội, nhân dân đòi hỏi có sự phản biện, xây dựng mà trí thức không nhận ra. Trí thức càng lớn thì càng quan tâm đến các vấn đề của xã hội, càng đưa ra những ý kiến sâu sắc, xác đáng, có tác dụng thức tỉnh xã hội.

Nói như ông thì trí thức nào cũng quan tâm đến vấn đề của xã hội?
Không hẳn thế. Vẫn có một bộ phận trí thức chỉ chú tâm vào công việc chuyên môn của mình mà ít quan tâm đến các vấn đề của đời sống, ít đưa ra những ý kiến phản biện xã hội. Đó là một thực tế. Nhưng không thể vì thế mà nói rằng họ không còn là trí thức nữa, nhất là khi những nghiên cứu của họ có ích cho xã hội.

Theo ông, phản biện xã hội có phải là một tiêu chí của trí thức?
Tôi cho rằng phản biện xã hội là một phẩm chất của những người có hiểu biết, có trách nhiệm với xã hội, chứ không nhất thiết là của trí thức. Như tôi đã nói, phần lớn trí thức với sự nhạy cảm của mình thường nhận ra những vấn đề bức xúc trong xã hội. Tuy nhiên, không phải trí thức nào cũng dám nói. Và việc nói lên ý kiến phản biện không phải chỉ có ở trí thức.

Tôi nhớ có một nông dân nói trên báo chí về vấn đề thu nhập bình quân hiện nay. Ông lấy ví dụ: nói bình quân 2 người ăn một con vịt nhưng có khi một người ăn cả con, còn người kia chẳng được miếng nào. Như thế, rõ ràng cách tính thu nhập bình quân nhiều khi không phản ánh đúng thực tế. Phản biện như vậy là sắc sảo, đâu chỉ có trí thức mới nói được?

Nhưng người dân thường kỳ vọng vào giới trí thức. Và giới trí thức là những người được đào tạo, có trình độ hiểu biết, cần xác định trách nhiệm xã hội của mình. Các cụ có câu “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.” Người dân thường còn thấy trách nhiệm của mình với đất nước thì những người được ăn học đến nơi đến chốn, đi nhiều hiểu rộng lẽ nào lại có thể thờ ơ với những gì đang diễn ra quanh mình, quan hệ tới đời sống dân mình, tương lai con cháu mình, vận mạng dân tộc mình?

Thời nào cũng có “trí thức trùm chăn”

Thế nhưng thực tế như ông vừa nói vẫn có bộ phận trí thức không lên tiếng phản biện. Theo ông thì vì sao?
Đó là những trí thức trùm chăn. Đến phản biện khoa học những trí thức này cũng còn dè dặt, nói gì phản biện xã hội! Không dám phản biện thường là do ngại đụng chạm, sợ ảnh hưởng tới quyền lợi của mình. Đó là hiện tượng thường thấy ở những nơi chưa cởi mở về tư tưởng. Nhưng nguyên nhân sâu xa là những trí thức trùm chăn không ý thức được trách nhiệm của mình với xã hội.

Đối tượng này có nhiều không, thưa ông?
Không riêng gì trí thức mà trong xã hội luôn có những bộ phận trùm chăn. Thời nào cũng có chứ không phải chỉ bây giờ. Con số này bao giờ cũng chiếm số đông. Như thời Pháp thuộc cũng có nhiều trí thức đi theo cách mạng, nhưng cũng rất nhiều trí thức đứng bên ngoài. Không phải tất cả những trí thức này không nhận ra lẽ phải. Nhưng họ không dám dấn thân, không đủ bản lĩnh nói lên tiếng nói phản biện hoặc hành động.

Trí thức không dám dấn thân, không đủ bản lĩnh để phản biện? Theo ông thì nguyên nhân là do đâu?
Có thể do năng lực, nhất là đối với các trường hợp chạy bằng, chạy chức. (NA – Một trường hợp nữa: conflict of interest hoặc theo các cụ gọi là há miệng mắc quai)

Việc xã hội đặt kỳ vọng vào giới trí thức phải chăng là một gánh nặng?
Đúng thế. Là trí thức, nhất là khi đã có tên tuổi thì trách nhiệm với ngành, với xã hội rất lớn, rất nặng nề. Nhưng chính sức ép của dư luận, của xã hội cũng tạo thành động lực để người trí thức vươn lên, hoàn thành trách nhiệm của mình.

Phải đổi mới ở khâu thực thi

Ông nhìn nhận thế nào về những ý kiến phản biện của giới trí thức trong thời gian qua?
Thời gian qua, trước nhiều dự án, nhiều vấn đề xã hội, giới trí thức đã có những ý kiến phản biện rất sâu sắc, kiên quyết, kịp thời. Những ý kiến đó có tác động tích cực đối với nhân dân và với các cấp lãnh đạo, rất đáng trân trọng. Tuy nhiên, như tôi nói lúc nãy, chúng ta chưa cởi mở về tư tưởng nên chưa thật sự tạo điều kiện để trí thức tham gia phản biện.

Theo ông, để giới trí thức ngày càng thể hiện vai trò phản  biện, cần phải làm gì?
Tôi cho rằng mặc dù chính sách cần tiếp tục được hoàn thiện nhưng cần phải đổi mới ở khâu thực thi chứ không phải ở chính sách. Thực tế, ở nước ta, khoảng cách từ văn bản nghị quyết, pháp luật đến thực thi thường rất xa. Ví dụ, Hiến pháp xác định nhiều quyền tự do của người dân nhưng thực thi như thế nào? Hay nói một chuyện đơn giản, pháp luật về giao thông quy định rất đầy đủ, nhưng nếu nạn tham nhũng, mãi lộ không chấm dứt thì làm sao thi hành pháp luật được?

Vâng, xin cảm ơn ông!

Bài: Thanh Thủy – Thu Huyền, Ảnh: Trần Hải

———————————————————————————————————–

Lực của người trí thức

Đôi lời: Một thông điệp rõ ràng về “một thông điệp hết sức sáng sủa”! “Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng”, nhưng “tôi” chấp nhận cái chết đó.

Tại sao cứ bắt/muốn người ta nghĩ, làm như ta (muốn). “Người ta” đã chót dại, muốn bằng danh tiếng của mình để hòng mau chóng biến đổi xã hội cho bằng thiên hạ, nhưng giờ đã tỉnh ra rồi, chấp nhận cũng với danh tiếng, chuyên môn ấy, chỉ xin làm cái chức phận nhỏ nhoi thôi.

Tội lỗi tất cả là ở những kẻ khốn cùng quá khát khao có được người nói thay cho mình, khi có thì quá vội tin, rồi vỡ mộng. Đừng có mà nguyền rủa “người trong mộng”!

Phạm Toàn

Tại sao một thông điệp hết sức sáng sủa, mạch lạc của giáo sư Ngô Bản Châu lại bị rất nhiều người hiểu lầm, hiện tượng tâm lý đó rất cần được phân tích.

Đây là quan điểm gốc đã được Ngô Bảo Châu nói trên Tuổi trẻ cuối tuần:

Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. […]  giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.

Nghĩ rằng ý tứ của mệnh đề gốc này thế là quá rõ: trí thức là người lao động (dĩ nhiên, đó là loại lao động trí óc) – và đã là người lao động thì phải làm ra sản phẩm (dĩ nhiên, đó là loại sản phẩm của trí óc, và thuộc chuyên ngành của mình).

Chỗ gây hiểu lầm ở đây là khi Ngô Bảo Châu làm cho bạn đọc hiểu rằng giá trị của người trí thức hình như chỉ là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, và không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội của nhà trí thức hết. Thực ra thì người trí thức bao giờ cũng có hai trách nhiệm – một trách nhiệm nghiệp vụ và một trách nhiệm xã hội, một trách nhiệm vật chất và một trách nhiệm tinh thần.

Cũng cần nói luôn rằng, trước việc gánh vác hai trách nhiệm đó, người trí thức được hoàn toàn tự do, và mọi người cũng không nên và càng không có quyền áp đặt cho người trí thức những nhiệm vụ (công việc) theo cách nghĩ chủ quan của mình.

——————————————————————————————————–

Trong khi cuộc tranh luận về trí thức đang sôi nổi tại Việt Nam thì Giáo sư Ngô Bảo Châu đi Pháp nhận Bắc Đẩu Bội tinh

BBC Vietnamese

Tiếp tục tranh cãi về vai trò trí thức

Cập nhật: 14:32 GMT – chủ nhật, 22 tháng 1, 2012
Giáo sư Ngô Bảo Châu đang giảng dạy ở Hoa Kỳ

Cư dân mạng tiếp tục tranh cãi sôi nổi về vai trò của giới trí thức trong xã hội Việt Nam sau bình luận của Giáo sư Ngô Bảo Châu.

Hôm thứ Sáu 20/1, báo Tuổi Trẻ Cuối tuần đăng bài phỏng vấn Giáo sư Châu. Trong bài, vị giáo sư toán có chia sẻ một số ý kiến về vai trò của giới trí thức và phản biện xã hội.

Ý kiến của ông Ngô Bảo Châu đã gây phản ứng mạnh trên một số trang blog nhiều người đọc.

Trong bài phỏng vấn trên Tuổi Trẻ, Giáo sư Châu nói ông phản đối việc “coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm ‘trí thức’”.

Ông nói: “Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc… Giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội”.

Giáo sư Châu cũng cảnh báo: “Những người có học, có tri thức thật ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia việc phản biện xã hội”.

Ông cho rằng “Trước khi lên tiếng về một vấn đề nào đó, người trí thức hơn ai hết cần phải hết sức ý thức về ảnh hưởng của nó”.

“Cá nhân tôi thường tránh bàn luận các vấn đề mà tôi không biết rõ. Tôi quan tâm nhiều hơn tới những lĩnh vực mà tôi có thể trực tiếp tham gia hành động thay vì chỉ nêu ý kiến.”

Tuy nhiên, ông Ngô Bảo Châu khẳng định “việc đưa ra các phản biện có lập luận chặt chẽ là những đóng góp lớn cho xã hội, cho đất nước của giới trí thức”.

“Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.”

Những bình luận trên của vị giáo sư hiện đang giảng dạy tại Hoa Kỳ đã “khiến mạng Facebook sôi sùng sục”, như nhận xét của blogger, nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Đóng góp xã hội

Trên blog Quê Choa của mình, ông Lập viết: “Không thể nghĩ đơn giản: trí thức là người lao động trí óc”.

“Các nhà khoa học được coi là Trí thức hay không phải xét xem họ đã dấn thân trong cộng đồng và xã hội như thế nào, xưa nay đều thế cả.”

Nhà văn Nguyễn Quang Lập cũng bày tỏ quan ngại: “Phát biểu của Châu, dù vô tình đi chăng nữa, sẽ làm cho đám trí thức trùm chăn được thể vênh vang, tiếp tục trùm chăn kĩ hơn nữa, trong khi vẫn có cớ để dè bỉu và chỉ điểm những trí thức chân chính”.

Trực diện hơn nữa, một blogger khác – nhà văn, dịch giả Phạm Viết Đào, viết ra nhận xét của ông về một giới trí thức mà “phần lớn có thể xếp họ vào tầng lớp ‘trí ngủ’ , họ buông xuôi, họ làm ngơ, họ thờ ơ với thời cuộc, với vận mệnh đất nước”.

Ông Đào viết: “Trong lớp trí thức này được bổ sung thêm những thành phần kiểu như Giáo sư Ngô Bảo Châu”. Ông cũng cho rằng việc nhà nước Việt Nam vinh danh Giáo sư Châu là “động thái chính trị hơn là một hành động thể chế hóa chính sách trọng dụng trí thức”.

Năm 2010, Giáo sư Ngô Bảo Châu được nhận giải thưởng danh giá – giải thưởng Fields, mà nhiều người coi như giải Nobel của toán học.

Ông cũng gây chú ý qua một số bài viết trên mạng, như bài về vụ xử Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ, hay trang blog nói về thực trạng tự do ngôn luận, vốn bị chi phối bởi hiện tượng “lề trái, lề phải”.

Khi đó ông Châu viết “bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do.”

Cuộc tranh cãi về vai trò của trí thức trong đời sống xã hội Việt Nam gần đây nổi lên trên các diễn đàn mạng với nhiều ý kiến trái chiều.

———————————————————————————————————

Trí thức là cái chi chi?

NGUYỄN VẠN PHÚ

Có những cái, chỉ khi ta đã đánh mất thì mới ý thức được sự tồn tại trước đó của nó. Đạo đức là một ví dụ. Một xã hội lương hảo ai bàn chuyện đạo đức mà làm chi.

Trí thức cũng là một khái niệm tương tự. Theo nghĩa, không ai có thể tự gán cho mình danh nghĩa trí thức được cả. Trí thức là sự cảm nhận của người khác, là sự quan sát, nhận định từ bên ngoài, đánh giá một con người dựa vào những tiêu chí mà người quan sát, nhận định có sẵn trong đầu. Nếu không thấy được cái đặc điểm này thì cứ tranh cãi miết không dứt về hai chữ trí thức.

Chúng ta hãy đi từ những ví dụ quanh mình cho dễ thấy. Một vị giáo sư đại học khả kính, viết thiên kinh vạn quyển, đi khắp nơi để diễn thuyết, nói chung ai nấy đều xem là một nhà trí thức hàng đầu. Thế nhưng có ai thử hỏi hàng xóm sẽ nghe người ta dè bỉu: trí thức gì lão ấy, lão đối xử với bố mẹ như tôi tớ, chuyên đánh vợ như cơm bữa. Thế là trong cảm nhận của người láng giềng, ông giáo sư không phải là trí thức cho dù cả ngàn người khác nghĩ ngược lại. Cả hai đều đúng và ông giáo sư ấy vừa là trí thức vừa không xứng đáng là trí thức. Chuyện này không có gì mâu thuẫn hay ba phải cả vì như đã nói, trí thức là cái cảm nhận chứ đâu phải hàm tước gì mà đạt hay không đạt.

Như vậy lao động trí óc là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Cái điều kiện đủ nó rất phong phú, tùy thuộc vào sự cảm nhận của người đánh giá. Với người này, đó là phong cách sống, là ứng xử với thế sự và nhân cách con người. Với người khác, nó có thể đơn giản là trách nhiệm với gia đình, với mọi người chung quanh. Nhưng với xã hội lớn nói chung, cái điều kiện đủ đó chính là sự minh định rõ ràng tư thế, quan niệm, lập trường trước các vấn đề của xã hội. Nó không phải đơn thuần là sự phản biện (hiểu theo nghĩa cứ ai chăm chăm phê phán nhà nước là trí thức thì nông cạn quá). Phản biện chỉ là một phần và là một phần quan trọng trong tâm thế của một con người trước muôn vàn vấn đề của cuộc sống.

Và ở đây cũng phải trở lại mấu chốt nói ở đầu bài: trí thức hay không là sự cảm nhận của người khác. Vì thế một người phản biện gay gắt một chủ trương của nhà nước có thể được đánh giá là tri thức sáng suốt, dũng cảm với người này nhưng bị xem là mù quáng, là mị dân với người khác. Một người lên tiếng ủng hộ giới cầm quyền có thể được ca ngợi là trí thức có trách nhiệm bởi một số người nhưng bị chê bai bởi nhiều người khác. Đó hoàn toàn là chuyện bình thường.

Vậy, vấn đề là tầm cỡ trí thức của một nước sẽ lớn cùng với nhận thức của dân chúng. Càng nhiều người cảm nhận đúng (cũng là một sự chủ quan của người viết – nhưng sự đúng đắn ở đây dựa vào các giá trị phổ quát toàn thế giới) thì đất nước càng có nhiều trí thức trong tâm tưởng của dân chúng nếu những người có điều kiện cần sẵn sàng dấn thân trước những vấn đề là điều kiện đủ (tức là nhu cầu của người dân, đòi hỏi của người dân với giới trí thức).

Bổ sung: Ở những nước đang phát triển như Việt Nam, ngổn ngang nhiều vấn đề, tâm thế dấn thân càng có tầm quan trọng. Bởi xã hội khi đối diện trước những vấn đề mới đều cần có những người nói lên những quan điểm rõ ràng giúp người dân nhận diện đúng sai. Vì thế, vai trò của người trí thức thường là người đứng ngoài vòng đặc quyền để chất vấn mọi chuyện, tức vừa từ bỏ vị trí đặc quyền để khỏi xung đột lợi ích, vừa có can đảm để lên tiếng cho xã hội, bất kể tiếng nói đó có làm giới cầm quyền hài lòng hay không. Người trí thức làm tất cả những điều đó như một công việc bên ngoài nghề nghiệp chính của họ. Một bác sĩ chữa bệnh, một nhà văn viết sách không ai xem đó là hoạt động của nhà trí thức. Đó là hoạt động nghề nghiệp đương nhiên của họ.

Theo blog NVP

—————————————————————————————————————

Thư gs Ngô Bảo Châu gửi Bọ Lập

Thư gửi Bọ Lập,

Đầu năm, có mấy dòng chúc Bọ sức khỏe tốt, luôn luôn vui vẻ.

Em cũng xin có vài dòng thưa lại với Bọ về chuyện trí thức versus phản biện vừa rồi.

Giá trị xã hội của phản biện như thế nào, em đã viết rõ, không cần viết lại nữa.

Còn cái định nghĩa trí thức em nêu, đúng là nó hơi cổ hủ, không được hiện đại như của anh Sartre, anh Chomsky. Thú thực với bọ là, đối với cái sọ của em, định nghĩa của mấy anh này rắc rối quá. Chả nhẽ anh công nhân, bác nông dân, các đồng chí doanh nhân thì không được phản biện. Phản biện xong mà bị phong hàm nông dân trí thức, công nhân trí thức … thì phiền phức lắm.

Có người khác thích định nghĩa trí thức như của anh Sartre anh Chomsky thì cũng rất là tốt. Cá nhân em không có cái lo lắng đau đáu xem mình có phải là trí thức hay không đâu bọ ạ. Nếu có rủi ro mình bị loại khỏi hàng ngũ trí thức trong đầu ai đó thì cũng phải chịu thôi bọ ạ. Em nghĩ là bọ cũng như thế. Việc gì mà nhiều người phải nổi đóa lên như thế.

Khi bọ cho rằng em ủng hộ mấy anh trùm chăn, không ủng hộ mấy anh không trùm chăn, thì bọ đang suy diễn đấy. Bọ rút kinh nghiêm thôi không chế tạo ra những cơn bão trong cốc thủy tinh nữa bọ nhé. Vui thì vui rồi, nhưng đợi một tuần nữa nhìn lại mà xem, sẽ thấy nó thảm lắm bọ ạ.

Châu

P.S. Bọ có thể đăng thư của em lên quechoa nếu thấy phù hợp.

Thư trả lời của Bọ Lập

Ok, cảm ơn Châu đã gửi mail. Mình biết Châu giận nhưng việc đáng nói thì phải nói, vì Châu đã trả lời trước công luận.

Mình hiểu ý Châu về sự phong hàm  “trí thức” cho những ai thích phản biện để nổi danh. Số này có nhưng rất ít, có thể nói không đáng kể. Vả, số này dù có nhiều đi chăng nữa họ cũng vô nghĩa trước dân chúng và xã hội. Dần dà rồi người ta nhận ra cả thôi, không phải lo lắng.

Điều đáng ngại là trong khi số  người có tri thức và bản lĩnh dám đứng ra phản biện đã rất ít lại bị tấn công tứ bề. Nguy hiểm nhất vẫn là sự tấn công từ phía các ” trí thức trùm chăn”. Cái lý của số này rất đơn giản nhưng dễ ” ru ngủ” chính quyền và công chúng, đấy là: bọn phản biện chỉ là đám háo danh, một lũ già đã hết thời cố vớt vát tên tuổi của mình bằng cái sự nói ngược. Nói chung đám phản biện tư cách không ra gì, chúng nó không phải là trí thức hoặc là trí thức lỗi thời, không nên nghe chúng nó và nên dọn sạch chúng đi.

Nếu Châu thấy đó là một thảm trạng bi hài ở nước ta thì Châu sẽ hiểu vì sao mình lên tiếng.

Tiếc là vì nghĩ tết nhất đến nơi và mình khá mệt mỏi vì nhiều chuyện nên không viết bài cho ra hồn khiến Châu và nhiều người hiểu nhầm.

Đừng nghĩ mình vu cho Châu ủng hộ “bọn trùm chăn”, đừng nghĩ thế, mình không cực đoan kiểu con nít thế đâu. Nếu như nhận ra Châu ủng hộ bọn đó thì mình sẽ nói riêng với Châu, chỉ khi Châu không chịu nghe, mình mới tung lên blog. Nói thế để Châu hiểu mình “gửi Ngô Bảo Châu” nhưng chính là gửi cho “bọn trùm chăn” thông điệp này: đừng mượn lời Ngô Bảo Châu để dè bỉu và chỉ điểm những trí thức chân chính. Có vậy thôi Châu ạ.  Tóm lại mình không bao giờ muốn làm ồn ào về những chuyện không đâu. Chính vì nhận thấy sự nguy hiểm trong phát ngôn vô tình của Châu mà mình phải lên tiếng, sự lên tiếng này hoàn toàn không dành cho Châu.

Riêng việc này thì mình xin lỗi Châu: tết nhất vui vẻ lại khuấy lên mấy chuyện không ra sao, làm Châu và người thân của Châu phải phiền lòng. Mình biết trước điều đó nhưng không có lựa chọn nào khác, lần nữa xin lỗi Châu.

Hôm nay về Mỹ rồi phải không? Chúc lên đường vui vẻ!

NQL

—————————————————————–

Tiền và toán học (ở Việt Nam) In Email

https://i2.wp.com/dir.coolclips.com/Science/Biology/woman_with_a_bag_of_money_CoolClips_vc063487.jpg

Thế giới toán học là thế giới rất đắt tiền. Toàn là tiền triệu, tiền tỉ. Mới đây, qua báo chí, tôi mới biết ngân sách dành cho Viện Toán học cao cấp năm 2012 là 15 tỉ đồng, nhưng số tiền này chỉ tương đương với kinh phí nghiên cứu thường niên của 3 giáo sư bên Tây. Có thật sự kinh phí nghiên cứu toán học ở VN thấp như thế?

Viện toán học cao cấp mới ra mắt công chúng, nhưng đã có ngay những lời bàn ra tán vào. Chính phủ dành hẳn một số tiền lên đến 650 tỉ đồng cho Viện. Số tiền 650 tỉ đồng thoạt mới nghe qua cũng choáng, nhưng tính ra thì khoảng 32.5 triệu USD. Người ta bàn tán xôn xao không phải vì con số 32.5 triệu USD, mà với tuyên bố của ngài Phó thủ tướng rằng không yêu cầu Viện phải nghiên cứu cái gì. Người ta bức xúc vì sự dễ dãi với quản lí tài trợ cho khoa học như thế. Thật ra, tôi lại thấy đó là một điều hay. Tôi nghĩ Chính phủ không nên can thiệp vào định hướng nghiên cứu của Viện. Định hướng nghiên cứu là vấn đề khoa học, nên để cho các nhà khoa học hoạch định.

Số tiền 32.5 triệu USD dành cho Viện Toán cao cấp có nhiều lắm không? Thật khó trả lời câu hỏi này, vì còn tuỳ thuộc vào bối cảnh và điều kiện kinh tế từng nước. Một giáo sư ở VN tiết lộ rằng phần lớn số tiền này dành cho việc xây dựng trụ sở của Viện, chứ không phải tất cả cho nghiên cứu. Như vậy, tuy số tiền mới nghe qua thì có vẻ lớn, nhưng chắc tính ra thì chẳng là bao.

Nhưng thử xem qua một trung tâm khác ở Saudi Arabia chúng ta sẽ có một đánh giá khác. Trung tâm xuất sắc về loãng xương của Saudi Arabia mà tôi có cơ duyên làm thanh tra có ngân sách 20 triệu USD trong 5 năm, nhưng số nhà khoa học lên đến vài chục người (5 giáo sư cơ hữu + 12 PhD + hàng chục “supporting staff”) và trang bị máy móc rất tốn kém. Mỗi 2 năm phải có thanh tra độc lập để đánh giá thành quả nghiên cứu. Saudi Arabia giàu hơn Việt Nam. Nhìn như thế để thấy kinh phí 650 tỉ đồng tuy là nhỏ, nhưng … không nhỏ, nhất là trong điều kiện kinh tế VN hiện nay (nợ chồng chất).

Lại xem thêm một trung tâm khác ở Úc. Úc không có viện toán cao cấp mang tầm quốc gia như ở VN. Viện Garvan (nơi tôi làm việc) đang xây một trung tâm ung thư học. Trung tâm này có hơn 10 giáo sư và 20 nhà khoa học trình độ PhD. Kinh phí xây dựng tốn 20 triệu USD. Trong số này, 10 triệu là do Chính phủ tài trợ, 10 triệu còn lại là Viện phải vận động xin từ các nhà hảo tâm.

Tôi nghĩ một cách đơn giản (có lẽ quá đơn giản) để so sánh kinh phí xây dựng viện/trung tâm nghiên cứu giữa 3 nước là qua thu nhập bình quân. Thu nhập bình quân của người dân Saudi là 22545 USD, Úc là 41805 USD, còn VN thì chỉ 3181 USD. Câu hỏi đặt ra là cần phải có bao nhiêu người dân phải còng lưng ra gánh cái giá xây dựng kia. Bảng sau đây trả lời câu hỏi đó:

Thu nhập bình quân (USD) Chi phí xây dựng viện / trung tâm (triệu USD) Số người dân phải “gánh” chi phí xây dựng
Việt Nam 3181 32.5 10,217
Saudi Arabia 22545 20.0 887
Úc 41805 20.0 478

Như vậy, tính trung bình, phải cần thu nhập của 10217 người dân VN để gánh số tiền xây dựng Viện toán cao cấp. Ở Saudi Arabia, chỉ cần 887 người gánh cho cái trung tâm 20 triệu USD. Còn ở Úc, họ chỉ cần thu nhập của 478 người là có thể xây được một trung tâm ung thư học.

Kinh phí được duyệt cho Viện Toán cao cấp năm 2012 là 15 tỉ đồng, tức khoảng 750 ngàn USD. Bàn về con số này, một vị giáo sư ở trong nước viết: “Số tiền này có lẽ chỉ bằng kinh phí chi cho 3 giáo sư toán học ở các nước phương Tây làm việc hàng năm.” Để chứng minh kinh phí này chẳng là bao, người ta làm so sánh như sau: Viện nghiên cứu toán (Institute for Mathematical Research – INSPEM, Mã Lai) có kinh phí 2 triệu USD mỗi năm; Viện toán Lahore (Pakistan) cũng có ngân sách 2 triệu; Viện toán Viện hàn lâm Đài Loan: riêng tiền thư viện hàng năm là 1 triệu USD, v.v. Không cần so sánh với Hàn Quốc vì sự so sánh đó chắc chẳng có ý nghĩa gì, do quá khác biệt. Nhưng những con số mới nghe qua quả cho thấy nghiên cứu toán ở VN có ngân sách khiêm tốn.

Ai cũng có thể biện minh bằng so sánh. Trái táo và trái cam cũng có thể đem ra so sánh, nhưng ý nghĩa ra sao thì còn tuỳ vào cách hiểu và sự tỉnh táo của mỗi người. Hãy tin rằng ngân sách cho INSPEM là 2 triệu USD/năm, nghe đúng là ấn tượng, nhưng đây là viện có nhiều nhà khoa học cơ hữu (còn Viện Toán cao cấp thì rất ít cán bộ cơ hữu). Nên nhớ rằng thu nhập bình quân của người dân Mã Lai cao hơn dân ta ~5 lần. Táo và cam là ở đây.

Thu nhập bình quân (USD) Kinh phí nghiên cứu mỗi năm (triệu USD) Số người dân phải “gánh” kinh phí
Việt Nam 3181 0.75 236
Mã Lai 15578 2.0 128
Pakistan 2781 2.0 719

Bảng trên đây cho thấy để có 750 ngàn USD, VN cần 236 người gánh chi phí. Trong khi đó Mã Lai chỉ cần 128 người là có thể chi 2 triệu USD. Ngoại trừ Pakistan là “hào phóng” hơn hết – nếu con số 2 triệu USD là đúng.

Viện toán Đài Loan dành ra 1 triệu USD cho thư viện thì đúng là ấn tượng. Một triệu USD có nghĩa là viện này chắc đặt mua hàng ngàn tập san toán học! Viện Garvan của tôi có trên 500 nhà khoa học, mà mỗi năm cũng chỉ chi ra khoảng 300 ngàn USD cho sách vở và tập san khoa học + lương của thủ thư. Có lẽ sách vở và tập san toán đắt tiền hơn tập san y khoa, nên cũng khó so sánh ở đây. Nhưng kinh nghiệm của tôi cho thấy tập san y khoa thường đắt tiền hơn các tập san khoa học tự nhiên.

Thế còn kinh phí 750 ngàn USD chỉ tương đương với kinh phí thường niên cho 3 giáo sư toán học ở các nước phương Tây? Tức là mỗi năm kinh phí cho nghiên cứu của một giáo sư toán là 250 ngàn USD? Rất ngạc nhiên!

Lương của một giáo sư thực thụ (ngành toán) ở Úc khoảng 100 đến 120 ngàn AUD (đôla Úc). Khi giáo sư xin tài trợ cho nghiên cứu, thì số tiền đó không phải để trả lương cho giáo sư, mà chỉ dành cho nghiên cứu và nhân sự nghiên cứu. Nếu người xin tài trợ là postdoc, thì số tiền đó có thể là cho lương bổng và thiết bị + phụ tá nghiên cứu. Ở Úc, kinh phí cho nghiên cứu không có khoản chi tiêu cho đi dự hội nghị, hay trả tiền máy bay để mời chuyên gia nước ngoài về làm seminar. Tất nhiên cũng có ngoại lệ và có “ăn gian”, nhưng trên nguyên tắc là không có chuyện Nhà nước cấp kinh phí nghiên cứu để … đi máy bay.

Ở Úc, ARC (Australian Research Council) là hội đồng tài trợ cho nghiên cứu cơ bản và khoa học tự nhiên, kể cả toán học. Mỗi năm ARC tài trợ cho khoảng 700-800 đề án, nhưng trong số này, chỉ có 7% là ngành toán (toán thuần tuý, toán ứng dụng, toán và máy tính). Những dự án này phải trải qua một quá trình bình duyệt (peer review) rất gắt gao. Tính chung, cứ 100 đề cương, chỉ có khoảng 20 đề cương được tài trợ sau khi qua bình duyệt.

ARC thường cung cấp kinh phí cho các dự án nghiên cứu trong 3 năm. Mỗi dự án nghiên cứu về toán học được cấp khoảng 70 đến 400 ngàn AUD, với trung bình là 300 ngàn USD trong 3 năm (có thể xem chi tiết ở đây). Nói cách khác, tính trung bình mỗi dự án toán được tài trợ khoảng 100 ngàn AUD / năm. Do đó, nước phương Tây nào mà dành đến 250 ngàn USD làm kinh phí nghiên cứu thường nghiên cho một giáo sư toán thì quả là quá tuyệt vời. Đó phải nói là thiên đường toán học vậy.

Kinh nghiệm cá nhân tôi cho thấy kinh phí thấp không hẳn là vấn đề. Tôi biết có người bạn tự bỏ ra gần 4 ngàn USD tiền túi làm nghiên cứu, và công bố được 5 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế hàng đầu trong chuyên ngành (nếu ở Úc, một nghiên cứu như thế phải tốn đến 100 ngàn USD). Trong khi đó nhiều dự án ở VN tốn bạc tỉ nhưng kết quả thì không đáng tin cậy, và cũng chẳng dám công bố ở đâu.

Theo tôi, so sánh về kinh phí nghiên cứu ở VN và phương Tây là rất khó. Ở phương Tây, một postdoc hưởng mức lương 60-70 ngàn USD/năm, trong khi đó ở VN còn chưa có chương trình đào tạo postdoc! Do đó, lấy kinh phí nghiên cứu của phương Tây làm chuẩn để nói rằng tài trợ cho nghiên cứu ở VN là còn quá thấp thì e rằng không hợp lí. Cách so sánh đó chẳng khác gì nói một tô phở 50 ngàn đồng ở Sài Gòn còn quá rẻ so với một tô phở 12 USD ở Sydney. Nhưng nếu biết thu nhập bình quân đầu người ở VN là 3 USD/ngày so với 115 USD/ngày ở Úc thì chúng ta sẽ thấy tô phở VN đắt hơn nhiều. Nhìn như thế sẽ thấy nghiên cứu toán cao cấp ở Việt Nam có thể còn tốn kém hơn ở Úc.

—-

Ps. Tôi mới ghé qua trang nhà của Viện nghiên cứu toán INSPEM của Mã Lai, thì thấy đây là một viện khá qui mô. Viện có trên 70 nhà khoa học, làm nhiều lĩnh vực, kể cả thống kê học. Năm 2009 họ công bố 137 bài báo (và hàng trăm proceedings), không biết tập san cao hay thấp, nhưng cũng ấn tượng. Họ cũng có những seminar về thống kê như Variable Selection and Model Building in Regression, thậm chí cả Basic Statistical Analysis Using SPSS!

—————————-

08:25-28/02/2012
Trí thức và chính trị

Vaslav Havel
Lời ban biên tập trang mạng Project Syndicat (Mĩ): Ông Václav Havel, vừa tạ thế ngày 18 tháng 12 (2011), là một trí thức hiếm hoi: không phải ông tìm cách chen chân vào chính trị mà chính trị đã đẩy ông vào con đường đó. Năm 1998, trong khi đang làm Tổng thống cộng hòa Czech, ông đã đưa ra những suy nghĩ sau đây về những cái lợi và mối nguy hiểm của nghề nghiệp của mình.

Một người trí thức – bằng những cố gắng của cá nhân mình đã thâm nhập vào bên dưới bề mặt của sự vật, để nắm được những mối quan hệ, nắm được nhân và quả, để công nhận rằng cá nhân chỉ là một phần của tồn tại rộng lớn hơn và từ đó có nhận thức sâu sắc hơn về thế giới và trách nhiệm trước thế giới – có thể làm chính trị được hay không?

Nói như thế, có cảm tưởng rằng tôi cho là trách nhiệm của người trí thức là tham gia hoạt động chính trị. Nhưng đấy là điều vô nghĩa. Hoạt động chính trị cần một loạt yêu cầu đặc biệt, chỉ liên quan đến nó mà thôi. Một số người đáp ứng được những đòi hỏi này, số khác thì không, dù họ có là trí thức hay không.

Tôi tin tưởng sâu sắc rằng thế giới cần – hiện nay càng cần hơn bao giờ hết – những chính trị gia đã được khai minh, chín chắn, những người dũng cảm và có đầu óc khoáng đạt, đủ sức cân nhắc những sự kiện nằm bên dưới phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của họ, cả về không gian lẫn thời gian. Chúng ta cần những chính trị gia muốn và có khả năng vượt lên trên những mối quan tâm về quyền lực của họ hay những mối quan tâm của đảng hay quốc gia của họ và hành động phù hợp với những quyền lợi căn bản của nhân loại hiện nay – nghĩa là hành động theo cách mà mọi người phải hành động, mặc dù đa phần không thể hành động như thế.

Chưa bao giờ chính trị lại phụ thuộc vào thời điểm, phụ thuộc vào tâm trạng thất thường của công chúng và phương tiện truyền thông đến như thế. Chưa bao giờ chính trị gia bị buộc phải theo đuổi những vấn đề thiển cận và chóng qua đến như thế. Tôi có cảm tưởng rằng cuộc sống của nhiều chính khách trôi lăn từ những bản tin trên TV vào tối hôm trước sang cuộc thăm dò dư luận vào sáng hôm sau, rồi đến hình ảnh của mình trên TV vào tối hôm sau nữa. Tôi không tin là thời đại của những phương tiện thông tin đại chúng hiện nay khuyến khích việc xuất hiện và trưởng thành của những chính trị gia tầm cỡ như Winston Churchill; tôi nghi ngờ, mặc dù bao giờ cũng có ngoại lệ.

Tóm lại: thời đại của chúng ta càng ít khuyến khích những chính trị gia có tư duy dài hạn thì chúng ta lại càng cần những chính trị gia như thế và do đó mà càng cần sự ủng hộ các nhà trí thức – ít nhất là những người đáp ứng được định nghĩa của tôi – tham gia vào chính trị. Sự ủng hộ như thế có thể xuất phát từ những người không bao giờ tham gia vào chính trị – vì lí do gì thì cũng thế – nhưng đồng ý với những chính trị gia đó hay ít nhất là cũng chia sẻ với những ý tưởng làm cơ sở cho những hành động của họ.

Có người phản đối: các chính trị gia phải được dân chúng bầu, dân chúng bầu cho những người suy nghĩ như họ. Người muốn thăng tiến trong lĩnh vực chính trị thì phải chú ý đến tâm trí của con người nói chung, phải tôn trọng cái gọi là quan điểm của người cử tri “bình thường”. Chính trị gia, dù muốn dù không, cũng phải là một cái gương. Ông ta không dám trở thành người quảng bá cho những chân lí không được lòng người, không dàm thừa nhận những chân lí có thể có lợi cho nhân loại nhưng lại bị đa số cử tri cho là không phải mối quan tâm trực tiếp của họ hoặc thậm chí bị họ coi là trái ngược với quyền lợi của mình nữa.

Tôi tin rằng mục tiêu của chính trị không phải là đáp ứng những ước muốn ngắn hạn. Chính khách phải tìm cách thuyết phục dân chúng, để họ ủng hộ ý tưởng của mình, ngay cả khi đấy là những ý tưởng chưa được nhiều người ưa chuộng. Chính trị phải thuyết phục cử tri rằng chính khách này công nhận hay hiểu một số vấn đề tốt hơn là dân chúng và vì thế mà họ nên bầu cho chính khách đó. Do đó, dân chúng có thể ủy thác cho chính trị gia một số vấn đề – mà vì nhiều lí do khác nhau – họ không hiểu hay không muốn mất thì giờ suy nghĩ, đấy là những vấn đề mà một người nào đó sẽ phải nói thay họ.

Nghệ thuật chính trị chân chính là nghệ thuật thuyết phục dân chúng ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa, ngay cả khi việc theo đuổi sự nghiệp đó có ảnh hưởng tới quyền lợi tức thời của nhân dân. Điều đó phải được thực hiện mà không gây trở ngại cho việc chúng ta kiểm tra – bằng nhiều cách khác nhau – rằng đấy là sự nghiệp chính nghĩa, và bằng cách đó mà khẳng định rằng những công dân đã tin tưởng ta không bị dẫn vào con đường phục vụ cho những điều dối trá và hậu quả là phải chịu tai họa, không đi tìm kiếm sự thịnh vượng trong tương lai một cách viển vông.

Cần phải nói rằng một số trí thức có khả năng thực hiện những cái ác như thế. Họ trau dồi để có hiểu biết hơn tất cả mọi người, họ đứng cao hơn tất cả mọi người. Họ bảo với đồng bào của mình rằng đồng bào không hiểu dự án đầy trí tuệ do họ đưa ra vì đồng bào còn ngu dốt, chưa ngang tầm với những người đưa ra dự án. Sau tất cả những gì chúng ta đã trải qua suốt thế kỉ XX, phải công nhận rằng thái độ trí thức – đúng hơn là ngụy-trí thức -như thế nguy hiểm đến mức nào. Xin nhớ rằng có biết bao nhiêu trí thức đã giúp thiết lập nên các chế độ độc tài hiện đại!

Chính trị gia giỏi phải có khả năng giải thích mà không cần dụ dỗ; ông ta phải khiêm tốn tìm kiếm chân lí của thế giới mà không được tuyên bố rằng mình là người sở hữu chuyên nghiệp chân lí đó; và ông ta phải cảnh tỉnh dân chúng về những phẩm chất tốt đẹp trong chính họ, trong đó có cả khả năng đánh giá những giá trị và quyền lợi vượt ra ngoài quyền lợi cá nhân, mà không tỏ ra là cao đạo hơn và không ép buộc đồng bào mình bất cứ thứ gì. Ông ta không nên khống chế tâm trạng của quần chúng hay ra lệnh cho các phương tiện thông tin đại chúng, cũng không bao giờ được cản trở việc theo dõi một cách sát sao mọi hành động của mình.

Trong địa hạt chính trị, các nhà trí thức nên thể hiện sự có mặt của mình bằng một trong hai cách khả dĩ sau đây. Họ có thể – mà không cảm thấy xấu hổ hay mất giá – nhận chức và sử dụng vị trí của mình để làm những việc mà mình cho là đúng chứ không phải là để bám víu lấy quyền lực. Hoặc là họ có thể trở thành những người cầm gương soi vào nhà cầm quyền để bảo đảm rằng người cầm quyền phụng sự sự nghiệp chính nghĩa chứ không sử dụng những lời có cánh để che đậy những việc xấu xa như nhiều trí thức tham gia hoạt động chính trị trong những thế kỉ qua.

Phạm Nguyên Trường dịch
Nguồn: http://www.project-syndicate.org/commentary/havel46/English

Thấy gì từ những tranh luận về trí thức?

Nguyễn Nguyên Thảo
Thứ Năm,  23/2/2012, 16:38 (GMT+7)
Phóng toThu nhỏAdd to FavoritesIn bàiGửi cho bạn bè

(TBKTSG) – Gần đây, những cuộc tranh luận về vai trò trí thức diễn ra khá gay gắt trên mạng. Các vụ “đụng độ” xảy ra với những tên tuổi đáng kính trong giới học thuật; cũng chỉ xoay quanh vấn đề muôn thuở: trí thức cần dấn thân, phản biện, thúc đẩy, cải tạo xã hội hay chỉ nên tập trung cho giá trị thuộc về chuyên môn?

Nếu đi tìm đáp án đúng-sai, phải-trái trong chủ đề trao đổi, sẽ là hoài công vì nó phụ thuộc vào hệ giá trị khách quan của người nhìn nhận (khi trí thức không phải là một khái niệm đóng kín hay được xác lập bởi các chỉ số, tiêu chí nhất định nhưng là một phẩm giá).

Hai câu hỏi cần thiết được đặt ra là: 1/ Vì sao những cuộc tranh luận về chủ đề trên lại diễn ra trong tình hình hiện nay? 2/ Điều gì làm cho các cuộc tranh luận trở nên gay gắt, căng thẳng đến nỗi có cả tình trạng tấn công tiểu sử, xúc phạm danh dự và nhân phẩm lẫn nhau – điều mà, lẽ ra không nên có trong các diễn đàn về… trí thức?

Albert Camus đã có lý khi cho rằng: “Trí thức là người mà trí óc họ quan sát chính nó”. Quan sát trong cái nghĩa, xử lý nhận thức được những gì đang diễn ra bên trong (chủ quan) và cả những gì đang diễn ra bên ngoài (khách quan). Ở mục từ trí thức (intellectuals), Từ điển xã hội học Oxford ghi: “Trong các xã hội hiện đại, trí thức không làm thành một nhóm được xác định rõ ràng. Theo truyền thống, trí thức có vai trò là những nhà tư tưởng hay những người tìm kiếm chân lý. Trong các xã hội đơn giản, đó có thể là những thầy tu hay pháp sư. Ở châu Âu, từ thời Phục hưng cho đến thế kỷ 19, trí thức là những người sáng tạo văn hóa cao cấp, là triết gia và các nhà phát kiến khoa học của thời đại đó”.

Sự phân hóa có thể đến từ nhiều nguyên do. Nhưng có thể hiểu nôm na: đó có thể là tính chất nảy nở trên cơ sở một bối cảnh độc lập tư tưởng, tự do học thuật và sáng tạo để tạo nên sắc thái đa dạng, mang hàm nghĩa dân chủ, để phân biệt với một dạng “phân hóa” nguy hiểm khác – bị manh mún, rã đám, bè nhóm.

Trường hợp thứ hai dẫn đến hậu quả là sản sinh ngày càng nhiều những trí thức sống trong tình trạng bị tước bỏ phẩm giá. Trong một thiết chế thiếu thiện chí, họ nhìn thấy sự bất lực của mình trong phát triển chuyên môn cũng như xử lý thực tế đời sống, nhưng không thay đổi được.

Chúng ta thường nói đến từ xã hội tri thức, nhưng trong xã hội tri thức thì người trí thức đứng ở đâu? Cuốn từ điển xã hội học nói trên cũng trích dẫn hai ý của Daniel Bell trong cuốn The Coming of Post Industrial Society (Sự xuất hiện của xã hội công nghiệp, in 1964) và Alvin Gouldner trong The New Class and the Future of intellectuals (Giai cấp mới và tương lai của trí thức, in 1981) như những dự báo và đề xuất cho vai trò trí thức trong xã hội hậu công nghiệp khi cho rằng một “xã hội tri thức” trong tương lai sẽ trao cho trí thức một vị thế trung tâm và danh giá.

Bên cạnh tín hiệu vui là những người có học không ngừng quan sát “não trạng”, vai trò của mình với học thuật, xã hội; thì sự thiếu độc lập, tan rã, thành kiến, nghi kỵ và gây sát thương lẫn nhau trong tầng lớp có tri thức, cũng cho thấy một thứ “thời tiết” không mấy vui. Càng nhìn vào các cuộc tranh luận về vai trò trí thức gần đây, càng nhận ra ở những người lớn tiếng đã xuất hiện sự chuyển hướng từ “mặc cảm đời thừa” sang hứng thú lập ngôn hay tìm cách giải tỏa những dày vò bổn phận cá nhân sang phỉ báng. Mặt khác, nhiều cuộc tranh luận không được đặt trên nền tảng học thuật mà chỉ xoay quanh những thành kiến cảm tính. Hàm lượng “thuốc súng” vẫn cao hơn sự sáng sủa hay giải pháp.

Trong “thế cuộc” hỗn loạn đó, sự phô diễn vai trò được đặt nặng, còn mục đích tìm một lối ra, vì nhiều khó khăn, thử thách và sự dấn thân, nên đã bị xem nhẹ, thậm chí bỏ rơi. Những “ẩu đả” rốt cuộc chỉ đem lại cho người tham gia một sự thỏa mãn “khoái cảm trong đau đớn” thông qua gây tổn thương cho người khác, vì kẻ tự nhận trí thức trong các cuộc tranh luận nói trên có dịp tự xỉ vả, hành hung tinh thần bản thân.

Và, ánh lửa nảy ra trong các cuộc tranh luận ồn ào bất tận đó phản ánh bản chất một không khí học giới bất bình thường, nơi mà trí óc của những kẻ có tri thức “quan sát” thấy sự bất an, bất lực dồn nén hàng ngày trong chính mình.

Mùa xuân trí thức: Ngành trí thức học là một ngành mới và cực kì phát triển trong hai tuần đầu năm. Ngày 20-1, tiến sĩ Ngô Bảo Châu trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, trong đó có nhận định: “Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”? Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc.”  Sau khi bài phỏng vấn này được đăng thì ngành trí thức học cũng đạt được những đột phá vô tiền khoáng hậu. Các nhà trí thức học mang tính lí thuyết cho rằng ngoài trường phái “trí thức căn bản” (Fundamental Intellectual) của tiến sĩ Ngô Bảo Châu còn có ít nhất bốn trường phái khác, bao gồm “tri thức”, “trí thức” (viết thường), “TRÍ THỨC” (viết hoa) và “trí ngủ”( viết thế nào cũng được).

PTC: Vậy các trường phái này khác nhau thế nào hả anh? Em nghe mà đau đầu quá!

TLC: Đó chính là đề tài cho các nhà trí thức học thực nghiệm. Họ đang tích cực nghiên cứu để phân biệt được ai là trí thức, và đã là trí thức thì thuộc nhóm trí thức nào. Đây là một nhiệm vụ không dễ dàng, đến tiến sĩ Ngô Bảo Châu cũng có nhiều người không cho là trí thức vì ông không coi phản biện xã hội là tiêu chuẩn trí thức.

PTC: Em rất tích cực phản biện xã hội, em vừa nói với bố mẹ đừng bắt em đi học thêm 12 ca/ tuần, có được gọi là trí thức không?

TLC: (cười xoà) Cho nên để thu thập đủ tư liệu và đưa ra kết luận chính xác nhất, các nhà trí thức học thực nghiệm đã đưa ra một phương pháp rất hiệu quả. Họ đã ra sức đưa ra những tranh luận về “Thế nào mới là trí thức?” trên các trang bờ-lóc, oép-sai, pho-rum, vv để thu thập các lời phản hồi. Sau khi phân tích những phản hồi này, họ đã đưa ra một vài kết luận ban đầu như sau:

  • Những người có bài phản hồi dài quá 140 kí tự, phản hồi quá 1 lần, hoặc phản hồi trên quá 1 phương tiện (oép, Phây-búc, pho-rum, bờ-lóc) vv thì đều là trí thức.
  • Ai không chê bai tiến sĩ Ngô Bảo Châu là lập tức thuộc nhóm “trí thức căn bản”.
  • “TRÍ THỨC” là những người thường đánh máy bằng chữ viết hoa, ngoài đời ăn to nói lớn.
  • “Trí thức” là những người tin vào quyền tự do làm điều mình muốn, nói điều mình nghĩ. Ngoại lệ duy nhất là tiến sĩ Ngô Bảo Châu, ông muốn hay không cũng phải phản biện và nói đúng điều mà họ nghĩ.

PTC: Ôi nghiên cứu phức tạp nhỉ?

TLC: Đúng thế. Theo chuyên gia Gấu Phạm, “Hot gơn sờ sờ ra đấy nhìn là biết, sờ là biết, chứ trí thức thì ai biết đấy là đâu.” Vào thời điểm này ngoài những trường phái kể trên còn có các trường phái trí thức học mới đang xuất hiện với tốc độ tên lửa. Ví dụ trường phái trí thức xét lại (revisionism), hiện đại (modernism), hậu hiện đại (post-modernism), hiện sinh (existentialism), vị lai (futurism), duy tâm (idealism), duy vật chất (materialism), phi vật chất (immaterialism), cá thể (individualism), loã thể (nudism) v.v.

PTC: Thôi em xin anh, anh cứ í-dừm với á-dừm thế này em chả hiểu gì cả.

Pé Tin Cute khi tìm hiểu về cuộc tranh luận trong ngành trí thức học