Trông vào đồng lương, hay trông vào lợi ích?

Posted on 29/02/2012

6


0bbf7_ktsg_trong_vao_luong

-BẢO BẢO-

Một bài viết hơi dynamic. Bản trên TBKTSG số 9 năm 2012: Trông vào lương, hay vào lợi lộc?

Bài liên quan: TRÔNG VÀO NGƯỜI DÂN


Dương Trung Quốc: Tôi tin Thủ tướng không gác chuyện tăng lương
“Có ý kiến cho rằng, Việt Nam cần chịu đau một lần để cắt giảm thực bộ máy hành chính đang quá cồng kềnh, trên cơ sở đó, tăng lương cho công chức, thanh lọc bộ máy hành chính” – “Phương án này bàn mãi rồi, nhưng không ai chịu cái “phần đau” mà chỉ muốn “nhường cho người khác”.
“Cũng như khi nói về tham nhũng, ai cũng công nhận là phổ biến những ai cũng cho mình là vô can”.

———

Song song với mức lạm phát phi mã trong vài năm trở lại đây, vấn đề lương công chức (hay rộng hơn là người làm việc trong khu vực nhà nước) liên tiếp được bàn luận rất sôi nổi. Phải chăng tăng lương (trên diện rộng) là phương cách duy nhất để đảm bảo cuộc sống của nhóm lao động đặc biệt quan trọng này, để từ đó nâng cao chất lượng công chức cùng nền đạo đức công vụ?

Trông vào lợi ích

Trong quan niệm phổ biến ngoài xã hội, lợi ích của công bộc thường nằm ở lương bổng hiện tại và lợi ích mong đợi trong tương lai. Cụ thể, lương công chức được tính toán trên nền lương tối thiểu và thay đổi tịnh tiến theo hệ thống ngạch bậc lương. Khiếm khuyết của hệ thống này là tương đối cào bằng và phụ thuộc khá cứng nhắc vào thâm niên phục vụ trong tổ chức. Bù lại, nó an toàn và trong hầu hết các trường hợp là tuần tự nhi tiến.

Một trong những lợi ích được mong đợi nhất khi công tác tại cơ quan nhà nước là khả năng tạo dựng chỗ ở với chi phí thấp. Cán bộ công chức thường có ưu thế hơn so với nhiều đối tượng khác trong việc tiếp cận các dự án nhà ở, thông qua kênh chính thống được phân chia qua các tổ chức nơi họ làm việc hoặc qua kênh “quan hệ”. Với tăng trưởng của thị trường bất động sản 10 năm trở lại đây, đó là nguồn lợi không hề nhỏ giúp đảm bảo chỗ ở – nền tảng cuộc sống quan trọng nhất trong xã hội hiện đại; và nhiều khi, tạo thu nhập như một hoạt động đầu tư. Ở mức độ tối thiểu, những dự án được gắn biển “nhà cho người thu nhập thấp”, trước hết cũng hướng đến các đối tượng là công chức, những người dễ chứng minh thu nhập thấp hơn, nếu chỉ nhìn vào bảng lương.

Nhưng đó mới là cách hiểu dưới góc độ “sòng phẳng” hữu hình vật chất. Làm công chức còn có những mối lợi khác khó đo đếm.

Ở Việt Nam, “vào nhà nước” là một cụm từ khiến hầu hết các gia đình có con tới tuổi ra trường dạt dào hồi hộp. Đơn giản vì quan niệm truyền đời từ thời phong kiến, nghĩ tới làm việc trong hệ thống chính quyền là tiềm ẩn cơ hội “làm quan”. Nhẹ nhàng hơn thì người ta cũng nghĩ rằng làm nhà nước đồng nghĩa với một chỗ làm được “bảo hiểm” đến cuối đời, không lo mất việc, nhận lương đều đều và ổn định ít xáo trộn.

Chỉ trừ phi “dính” sai phạm hay gây thất thoát quá lớn, còn lại hầu hết những vị trí trong khu vực nhà nước đều ít khi gặp nguy cơ nghiêm trọng. Gần đây, dư luận xôn xao một trường hợp hiếm có khi người đứng đầu một tập đoàn kinh tế lớn bị miễn nhiệm. “Bến đỗ” tiếp theo là bộ chủ quản của tập đoàn đó. Một tập đoàn tư nhân thì khó cho phép mức độ thua lỗ cỡ như thế mà lãnh đạo doanh nghiệp tại vị lâu tới vậy, tất nhiên ngoại trừ trường hợp người đó chính là chủ sở hữu doanh nghiệp.

Với công chức trẻ, chưa có cơ hội thăng tiến, vị trí trong khu vực công là bệ phóng tốt nhất cho quá trình nghiên cứu – học tập. Đa số các cơ quan nhà nước đều khá sẵn các cơ hội cho cán bộ tại đó đăng ký đi học tập tại nước ngoài, phổ biến là các khóa học dài hạn nhằm đào tạo thạc sỹ hoặc tiến sỹ, với độ cạnh tranh không gay gắt bằng các cơ hội mở ra cho khu vực tư nhân (còn gọi là khối “tự do”). Nếu tính ra vật chất thì các suất học bổng từ ngân sách nhà nước, hoặc từ nguồn viện trợ nước ngoài, chắc chắn có giá trị không kém thu nhập được tiếng là cao của bạn bè họ làm việc bên ngoài nhà nước, nhịn ăn nhịn mặc trong dăm bảy năm để nộp đủ học phí của một chương trình tương đương.

Ấy là chưa nói tới những lợi ích khác, như sử dụng xe công, nhà công vụ, các chuyến tham quan khảo sát nước ngoài,.v.v. hoặc trong một số trường hợp mang tính tiêu cực, là các bổng lộc từ vị trí phê duyệt dự án, cấp và thu hồi đất đai, hay đấu thầu mua sắm công.

Giá trị nghèo tính vật chất nhất của công chức, chí ít cũng là sự trọng thị và kính nể của cộng đồng với địa vị xã hội của họ, một cảm xúc mà đôi khi được thể hiện ở những cung bậc và màu sắc khác nhau.

Một khi các lợi ích vô hình nêu trên chưa được làm rõ, rất khó để giúp những người trong cuộc xác định “được – mất” của mình khi làm việc trong khu vực công.

Trông vào cải cách

Singapore, hình mẫu lý tưởng trên toàn thế giới về thu nhập của công chức theo triết lý “tiền nào, của nấy”, vừa đề nghị giảm 30% lương lãnh đạo khu vực công[1].

Hiện tượng này cho thấy, mặc dầu nhà nước có toàn quyền đánh giá và trả lương cho lao động trong khu vực công, sự quan sát và nhìn nhận (ngầm định hoặc chính thức) từ các kênh khác nhau trong xã hội đối với khu vực này vẫn có thể tạo ra một áp lực khiến người ta phải tìm tòi các cải cách khác nhau về thu nhập.

Trên thực tế, tất yếu thu nhập của công chức sẽ phải cải thiện để phù hợp với chất lượng được mong đợi của nền công vụ. Tuy nhiên, quá trình này cần được tính tới những yếu tố đảm bảo công bằng trong việc phân phối thu nhập. Một trong những đề nghị mang tính đột phá gần đây [2] là quá trình tăng lương công chức cần được xem xét cùng với việc giảm bao cấp với các tổ chức ăn lương từ ngân sách, đánh giá hiệu quả làm việc của cá nhân, và nỗ lực tinh giảm biên chế đối với với số lượng không nhỏ cán bộ công chức không đáp ứng yêu cầu công việc. Có điều, đáng lưu tâm là hầu hết ý kiến loại này xuất phát từ các đại biểu đã hưu trí.

Chợt nhớ tới chuyện hồi hưu của một nhân vật lịch sử – Đô thống đại tướng quân Lê Phụng Hiểu[3]. Khi được ban thưởng công trạng hiển hách chống thù trong giặc ngoài, ông tâu vua chỉ xin được đứng trên đỉnh núi Bưng (Thanh Hoá) quê mình, từ đó ném dao xuống, hễ dao cắm đến đâu thì lĩnh số đất ấy để về dưỡng lão. Tương truyền, cú phi đao đó khoanh lại được một ngàn mẫu ruộng và để lại hậu thế một thuật ngữ gọi là “ruộng thác đao”, chỉ những phần thưởng cho giới quan lại xưa.

Trông vào câu chuyện trên, thiết nghĩ cải cách lương bổng nên được xem xét trong một quá trình thảo luận minh bạch, có sự tham gia của nhiều thành phần không thụ hưởng một nguồn thu nhập chiếm tới “51% chi thường xuyên của ngân sách nhà nước”. Điều này cũng góp phần tránh quan ngại từ xã hội rằng các lợi ích trong khu vực công sẽ không trở thành “ruộng thác đao” (kết quả của việc người hưởng lợi tự đề xuất cơ chế); đồng thời, tạo điều kiện chứng minh sự lành mạnh của đồng lương, vốn vẫn bị nhìn nhận không đồng nhất với thu nhập.


[2] Hội thảo “Đa dạng hóa nguồn lực cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2011-2020” tại Hà Nội ngày 10/2/2012.

[3] Thực chất, người khai sinh thuật ngữ “ruộng thác đao” phần nào gây tranh cãi này là một trong những tướng quân tài danh nhất thời Lý sau kỷ nguyên Lý Thường Kiệt. Bắc cự Tống, Nam đè Chiêm, dẹp loạn thân vương chặn nội chiến, thậm chí Lê Phụng Hiểu xứng đáng được ban thưởng nhiều hơn số “ruộng thác đao” chốn điền dã mà ông khiêm tốn nhận lấy vào những năm tháng cuối đời.

ĐỌC THÊM: Biết rồi… khổ lắm… nói mãi! của TS Alan Phan – “Trước mắt ngài thứ trưởng Kế hoạch của Ấn Độ, tôi nói một giải pháp rất đơn giản và không tốn kém là sa thải 50% toàn bộ công chức và tăng lương gấp đôi cho những nhân viên còn lại (NA – vậy là khỏi phải lo nguồn tiền để tăng lương từ đâu). Tôi đảm bảo bộ máy sẽ không bị thiệt hại một chút gì và sự đơn giản hóa những thủ tục rườm rà của hệ thống hành chính sẽ giúp kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn. Tôi cũng tin là hệ số tăng trưởng GDP của Ấn Độ sẽ tăng ít nhất là 30% so với hiện tại.”