Nông nghiệp đã cứu đất nước này

Posted on 18/04/2012

0


doi sua me

Vậy là đã có đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế. Rất nên đọc lại Bài phỏng vấn TS. Đặng Kim Sơn của TBKTSG & VietnamNet.

-Nông nghiệp luôn trở thành phao cứu sinh cho đất nước khi kinh tế gặp khủng hoảng. 

– Rất may là trong cả ba lần kinh tế khó khăn, chúng ta đều được mùa.

– Michael Porter đã nhận xét, lợi thế so sánh duy nhất của Việt nam là nông nghiệp. Muốn nền kinh tế thị trường phát triển, trước hết anh phải dựa vào lợi thế so sánh của mình.

– Cái gì tốt nhất của nông thôn, từ con người đến nông sản, thì đô thị lấy hết. Còn những thứ đô thị thải ra thì mang về nông thôn.

Bài liên quan:

Nông nghiệp đã cứu đất nước này (I)

Tư Giang thực hiện
Chủ Nhật,  14/8/2011, 09:50 (GMT+7)

(TBKTSG) – Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), trao đổi với TBKTSG về những thách thức trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

TBKTSG: Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu không có đóng góp của ngành nông nghiệp, thì tình hình kinh tế – xã hội của Việt Nam sẽ khó khăn hơn rất nhiều trong mấy năm qua. Quan điểm của ông như thế nào?

Tiến sĩ Đặng Kim Sơn: Đó là điều chắc chắn và không phải bàn cãi. Nông nghiệp luôn trở thành phao cứu sinh cho đất nước khi kinh tế gặp khủng hoảng. Hãy xem lại ba lần gần đây.

Thứ nhất là cuối thập kỷ 1980 gặp khủng hoảng giá lương tiền, Việt Nam không còn nguyên liệu, vốn và thị trường. Những năm đó công nghiệp tăng trưởng âm. Nhưng nhờ có Khoán 10, Chỉ thị 100, rồi tự do hóa thương mại nên cả nông nghiệp và dịch vụ đều phát triển, giúp đất nước vượt qua khó khăn.

Lần thứ hai là cuối thập kỷ 1990, khi châu Á rơi vào khủng hoảng tài chính. Hàng hóa của Việt Nam hướng về Đông Nam Á nên cả công nghiệp và dịch vụ đều suy giảm. Lúc đó chúng ta lại tăng đầu tư cho nông nghiệp, phát triển kinh tế trang trại và nhờ đó lại vượt lên.

Lần thứ ba là 10 năm sau đó, vì cả thế giới gặp khủng hoảng nên tác động đến cả công nghiệp và dịch vụ. Và lại một lần nữa, nông nghiệp tiếp tục vượt lên, đảm bảo được an ninh lương thực. Rất may là trong cả ba lần kinh tế khó khăn, chúng ta đều được mùa.

Mấy năm gần đây, nước ta vừa được mùa, vừa được giá nên nông dân hăng hái sản xuất. Nếu nông dân không hăng hái sản xuất thì lạm phát không biết còn đến đâu. Tóm lại, ngành nông nghiệp đảm bảo việc làm, kìm giữ lạm phát và giúp giảm nhập siêu, ba yếu tố rất quan trọng cho kinh tế vĩ mô. Mỗi một lần kinh tế khó khăn, thì ngành nông nghiệp lại cứu đất nước này.

TBKTSG: Nhưng bản thân ông và không ít chuyên gia nông nghiệp luôn phàn nàn là ngành nông nghiệp bị đối xử chưa xứng đáng, ví dụ như đầu tư từ ngân sách thấp. Vì sao thế?

– So với các nước, Việt Nam là nước đầu tư cho nông nghiệp vào loại thấp, cơ cấu đầu tư bất hợp lý. Chúng ta rất cần đầu tư cho khoa học công nghệ, khuyến nông, đào tạo, nhưng đầu tư cho nông nghiệp chủ yếu rơi vào các công trình xây dựng. Theo tôi, vấn đề không phải là tăng đầu tư mà là ưu tiên đầu tư và đầu tư có hiệu quả.

Về tổng thể, trong giai đoạn hiện nay Nhà nước không thể có nhiều tiền đầu tư cho nông nghiệp. Tất cả các nước trên thế giới đều như thế. Mới đầu là giai đoạn lấy đi từ nông nghiệp, sau đó lấy ít dần và rồi tăng dần đầu tư cho nông nghiệp đến điểm cân bằng. Sau điểm đó thì mới thực sự tăng đầu tư vào nông nghiệp được. Cái điểm ấy đạt được khi nông nghiệp chiếm khoảng 15% GDP (hiện nay là 20% và phấn đấu đạt 18% vào năm 2015). Về chính sách, Việt Nam hầu như không lấy đi từ nông nghiệp nữa, nhưng có lúc nông nghiệp vẫn bị lấy đi qua cánh kéo giá, tức tăng giá nông sản thấp hơn so với tăng giá vật tư, dịch vụ, giá giao thông vận tải, giá điện hay tỷ giá.

TBKTSG: Ông nghĩ thế nào về cách ứng xử hiện nay với đất nông nghiệp?

– Trong quá trình công nghiệp hóa, việc lấy đất, lao động, vốn và nguồn nước từ nông nghiệp là chuyện tất yếu. Hiện nay, chúng ta lấy đất nông nghiệp cho ba mục đích chính là công nghiệp, công trình xây dựng hạ tầng, và dịch vụ (như sân golf, resort). Đương nhiên chúng ta phải ưu tiên hai nhóm đầu và phải lấy đất sản xuất nông nghiệp không hiệu quả, khi lấy xong phải đưa công trình vào sử dụng. Nhưng vừa qua không phải như thế. Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên ở Bắc bộ hay Cần Thơ, Tiền Giang ở Nam bộ người ta chỉ lấy toàn đất lúa rồi bỏ đấy, như khu công nghiệp Đình Vũ ở Hải Phòng, hay khu công nghiệp Trà Nóc tại Cần Thơ. Bờ xôi ruộng mật lấy làm công nghiệp, nhưng lấy xong bỏ đó là không thể chấp nhận được.

TBKTSG: Về việc này, Thủ tướng đã yêu cầu các tỉnh lấy đất lúa làm dự án phải báo cáo. Diễn biến hiện nay thế nào, ông có cập nhật được không?

– Chúng ta phân cấp cho cấp tỉnh được cấp đất làm dự án, cho nên dự án lớn đến cỡ nào thì Thủ tướng mới quản lý. Có tình trạng, các dự án xin cấp đất quy mô nhỏ, rồi mới mở rộng sau để tránh phải trình Thủ tướng. Thứ hai là chuyện bồi thường cho nông dân gây nhiều bức xúc do giá cả bất hợp lý và không đáp ứng nhu cầu sống và làm việc của người dân.

TBKTSG: Gần đây, nông dân ở một số tỉnh ĐBSCL đã tích tụ được ruộng đất và có thể áp dụng cơ giới hóa. Nhưng có ý kiến lo ngại là xuất hiện tầng lớp địa chủ mới, rồi bất công… Ông nhìn nhận thực tế này như thế nào?

– Thứ nhất, cái người ta lo ngại hình thành tầng lớp địa chủ mới, thì ngoài giải pháp đất đai hệ thống chính trị, hệ thống pháp luật của chúng ta có rất nhiều biện pháp để ngăn chặn. Thế nào là địa chủ? Địa chủ là người dựa vào vốn đất, rồi phát canh thu tô, giao cho nông dân khác canh tác rồi thu lại địa tô. Có rất nhiều cách để ngăn chặn hiện tượng này.

Thứ hai, người ta lo ngại doanh nghiệp nông nghiệp, tức doanh nghiệp mua đất, rồi thuê nông dân làm kiểu đồn điền. Nhưng cách đó rất khó làm trong nông nghiệp vì không quản lý được hiệu quả kém. Người ta cũng lo ngại phát triển kinh tế trang trại nhưng đối với những vùng chuyên canh như ĐBSCL, Tây Nguyên, Đông Nam bộ thì phát triển kinh tế trang trại là cách tốt nhất để nâng cao hiệu quả sản xuất. Vấn đề chỉ là Nhà nước làm sao rút lao động ở nông thôn ra, tạo việc làm cho họ trong quá trình công nghiệp hóa, chứ không phải là chuyện địa chủ bóc lột nông dân. Phải xử lý được cả hai vấn đề này để có thể tích tụ đất đai.

TBKTSG: Làm sao công nghiệp hóa nông thôn khi mà đất đai quá manh mún như vậy, thưa ông?

– Đất đai manh mún lại là câu chuyện khác. Ở miền Nam, nếu thị trường phát triển tốt, luật pháp cho phép nông dân tích tụ ruộng đất, giao quyền sử dụng đất lâu dài hơn hiện nay, thì khả năng tích tụ là có. Ở miền Bắc tình hình khó hơn khi lao động nông nghiệp rời khỏi nông thôn, không bước được vào thị trường lao động chính thức.

Họ làm nghề chạy xe ôm, cửu vạn, giúp việc, thợ xây… ở thành phố, tất cả những nghề đó không có hợp đồng, không có bảo hiểm, bất kỳ lúc nào cũng có thể bị đuổi việc. Vì thế họ sống chết giữ mảnh đất đó để đề phòng cơ nhỡ. Như thế, mảnh đất đó vừa không sinh lợi, lại không được tích tụ lại vào tay người thật sự sản xuất.

Đối với miền Bắc, muốn xử lý thị trường đất đai thì phải xử lý được thị trường lao động. Chừng nào, người nông dân đi được vào thị trường lao động chính thức, thì chừng đó đất đai ở nông thôn mới tích tụ được, và việc dồn điền đổi thửa mới thành công.

TBKTSG: Ông hình dung phải mất khoảng bao nhiêu năm để giải quyết vấn đề đó?

– Có nhiều nền kinh tế như Hàn Quốc, Đài Loan chỉ mất 15-20 năm để xử lý vấn đề này nhưng cũng có nước như Thái Lan, Philippines mất hàng chục năm mà chưa xong. Các nước xử lý được sẽ tiến hành công nghiệp hóa thành công, còn các nước không xử lý được thì rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

TBKTSG: Hiện nay ở một số vùng nông thôn nhiều làng chỉ còn người già và trẻ em sinh sống, còn lao động chính di cư hết. Ông nhìn hiện tượng này thế nào?

– Đó là quy luật trong quá trình công nghiệp hóa. Lao động sẽ bỏ lĩnh vực năng suất thấp là nông nghiệp chuyển sang khu vực có năng suất cao hơn là công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, ở những nước đã công nghiệp hóa thành công thời kỳ đầu thì tình trạng dễ dẫn đến cách mạng, thậm chí chiến tranh.

Nếu chúng ta vừa muốn công nghiệp hóa, vừa muốn xã hội ổn định thì phải áp dụng các chiến lược đặc biệt. Trung Quốc chủ trương ly nông không ly hương, phát triển doanh nghiệp hương trấn tại chỗ để giữ nông dân. Trung Quốc đã có thành công lớn mà vẫn chưa ổn. Họ có 200 triệu người di cư từ nông thôn ra đô thị, chẳng phải là người đô thị, chẳng phải là người nông dân. Trong khi đó, một số nền kinh tế khác như Đài Loan, Nhật Bản lại làm được. Số công nhân ở đô thị giảm, tăng trưởng dân số cơ học ở thành phố không diễn ra trong quá trình công nghiệp hóa do làm được ba việc. Họ xây dựng cơ sở hạ tầng toàn quốc, giáo dục tay nghề toàn quốc, và từ đó đưa nhà máy, đưa việc làm và thu nhập về nông thôn.

TBKTSG: Vậy ông nhìn nhận trường hợp Việt Nam như thế nào?

– Mô hình của chúng ta gần giống Trung Quốc nhưng với dân số đông, mà diện tích nhỏ thì tình trạng khá gay gắt. Nông dân ta vẫn ly nông và ly hương, nhưng ly hương bán thời gian và bỏ hoang đất đai. Một bộ phận rất đông nông dân không đi vào được cuộc sống đô thị, cũng chẳng còn gắn bó với nông nghiệp. Họ chẳng phải công nhân, chẳng phải nông dân. Tồn tại một cơ cấu xã hội như vậy là rất không ổn.

TBKTSG: Vậy xu hướng như thế nào? Nó có thể thành một sức ép xã hội lớn?

– Kinh nghiệm quốc tế thì đã rõ rồi. Thế giới chia thành hai loại nước. Đa số các nước phát triển đến mức nào đó sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, chỉ một số ít nền kinh tế biết cách đi vào công nghiệp hóa. Với Việt Nam, việc này có thể giải quyết được, nhưng đòi hỏi hệ thống chiến lược chính sách hợp lý và khả năng lãnh đạo, quản lý đất nước. Như vậy, cần cẩn trọng vì xác suất rơi vào bẫy thu nhập trung bình cao hơn là xác xuất thành công.

TBKTSG: Chúng ta đã đưa ra chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn – nông dân rất lớn và tham vọng. Liệu nó có giải quyết được những thách thức đó?

– Đây là bước đi cơ bản đầu tiên, nhưng để đi vào con đường công nghiệp hóa thì cần làm nhiều việc hơn nữa. Đầu tư, xử lý lao động, xử lý đất đai, kết cấu kinh tế… Nếu không, dù đi nhanh hay đi chậm, chúng ta cũng sẽ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, ở mức độ cao hơn hay thấp hơn thôi.

TBKTSG: Chúng ta chỉ còn chín năm để trở thành một nước căn bản công nghiệp theo mục tiêu đề ra từ hai thập kỷ trước. Làm sao xử lý được những thách thức nội tại, nhất là giúp đưa đa số lao động, cư dân nông thôn ra công nghiệp, đô thị?

– Thế nào là một quốc gia công nghiệp hóa? Nếu áp dụng tiêu chuẩn chung, tức GDP đầu người trên 10.000 đô la Mỹ và các tiêu chí của thế giới về một nước phát triển thì chặng đường của Việt Nam còn xa lắm.

Vấn đề không phải là chúng ta có hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa hay không, mà là làm thế nào để tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Cứ xem bao nhiêu nước ở Đông Nam Á, hay Mỹ Latin bao lâu nay đã thành rồng, thành hổ mà không cất cánh lên được mức công nghiệp phát triển. Mà phần lớn trong số họ có điều kiện và năng lực khá hơn ta.

TBKTSG: Ông thấy cuộc sống thực của người nông dân như thế nào?

– Trước hết, phải thấy rằng người nông dân đã cải thiện đáng kể về cuộc sống. Cái không ổn là khoảng cách giữa đô thị và nông thôn còn lớn. Nông thôn tiến được một, thì đô thị tiến hai, ba. Vấn đề là tốc độ cải thiện ở nông thôn quá chậm so với công lao đóng góp của nông dân.

Thứ hai, chưa chắc nông thôn có mức tăng tương đối khá so với đô thị là đã ổn. Điều lo ngại nhất chính là cư dân nông thôn có được cơ hội như thế nào trong quá trình công nghiệp hóa. Cầm chắc là cứ 10 nông dân thì hết 9 người sẽ bỏ ruộng đất ra đi trong tương lai. Xin hỏi, nhà họ ở đâu, việc làm của họ ở đâu, và tương lai con cái họ ở đâu trong một xã hội hiện đại? Họ chưa có “cửa” nào và cũng chưa chuyển được mình để thích ứng. Đó là điều cần quan tâm nhất.

Nông nghiệp đã cứu đất nước này (II)

Chiến lược nông nghiệp mới hay giấc mơ của ông viện trưởng

Cập nhật lúc 12/04/2012 06:00:00 AM (GMT+7)
Khi quyền lợi được đặt ra thì người ta sẽ muốn làm nông dân và chủ động đi học, đi thi để lấy “bằng nông dân”. Chứ hiện nay những người đang buôn bán đất đai, bất động sản, hay vật tư, đều cho anh nông dân là mạt hạng nhất, ai cũng có quyền làm nông dân và có thể làm nông dân.

LTS: Tiếp nối câu chuyện về Tam Nông, Mục “Gặp gỡ & Đối thoại” tuần này của Tuanvietnam xin được giới thiệu cuộc trò chuyện của phóng viên Huỳnh Phan với Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, người đứng đầu Viện Chính sách Phát triển Nông nghiệp – Nông thôn – cơ quan tham mưu chính cho chính phủ trong việc hoạch định chiến lược nông nghiệp mới.

Cách đây khoảng một năm, tại Buôn Ma Thuột, khi người viết hỏi TS Đặng Kim Sơn về đề án “Mô hình cụm ngành cà phê quốc gia & Mô hình nông thôn mới tích hợp liên hoàn” của Tập đoàn Trung Nguyên, ông đã nói: “Phải nói đó là bức tranh quá đẹp. Mà cái gì đã quá đẹp thì chỉ tồn tại trong giấc mơ thôi.”

Thế nhưng, sau một năm, ông chủ tập đoàn Trung Nguyên hầu như đã chứng minh được với những người có trách nhiệm ở cả cấp trung ương và cấp tỉnh về tính khả thi của nó, cũng nhu đã thuyết phục được một đối tác nước ngoài cùng thực hiện giấc mơ đó cùng với ông.

Thế còn giấc mơ của ông Viện trưởng…

Thả mồi bắt bóng

Theo ông, cho đến giờ nông nghiệp được coi là có vai trò như thế nào trong nền kinh tế?

Có hai quan niệm rất khác nhau, nhưng lại thống nhất với nhau như hai mặt của đồng tiền.

Theo cách nghĩ thứ nhất, nông nghiệp là cái cần hy sinh để làm nền móng, làm bậc thang đầu tiên cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sau này, khi nông nghiệp bị thu hẹp lại, nền kinh tế sẽ bù đắp cho nó sau.

Theo cách nghĩ thứ hai, nông nghiệp là phần lạc hậu, là phần ánh sáng văn minh chiếu không tới, đô thị vươn không đến. Đó là chỗ rắc rối nhất, dễ cháy nhất, dễ lụt lội nhất, dễ nổi loạn nhất. Khủng hoảng và đói nghèo đều ở đấy cả, cho nên cần phải đề phòng và giám sát hết sức cần thận, và rất cần cưu mang nó.

Về nguyên tắc người ta nghĩ nông nghiệp sẽ tiêu biến. Giai cấp nông dân như ở nước ngoài chiếm chưa tới 5% thì coi như tiêu biến, lột xác và biến thành giai cấp khác. Nông thôn sẽ biến mất nhường cho thành thị, hay phát triển nông thôn chính là đô thị hóa. Công cuộc phát triển nông nghiệp, hay công nghiệp hóa nông nghiệp, thực chất là biến đa dạng hoá các ngành nghề khác nhau để giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn.

Rất may là hình như thông qua khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chúng ta học được bài học về sự hy sinh nông nghiệp để phát triển nông nền công nghiệp gia công trình độ thấp và tận khai tài nguyên khoáng sản, đúng không ạ?

Cuộc khủng hoảng vừa rồi nói cho mình nhiều chuyện, nhưng cái chính là sự tất yếu về con đường đi của mình là phát triển theo chiều sâu, không thể không vượt qua ngã rẽ từ chiều rộng sang chiều sâu được.

Quan điểm của nước ta về công nghiệp hóa là phải sản xuất thật nhiều sản phẩm công nghiệp, phát triển đô thị thật nhiều, thật nhanh, tỷ trọng công nghiệp phải lớn. Điều đó dẫn đến hệ lụy là đến các tỉnh, chúng ta luôn được nghe những câu đại loại như “thu hút được bao dự án nước ngoài, tỷ trọng công nghiệp trong thu ngân sách của tỉnh là bao nhiêu…”. Ít có ai quan tâm tới lợi thế so sánh của địa phương của mình.

TS Đặng Kim Sơn

Chính vì vậy, người ta đã lấy đi đất màu mỡ ở vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên để làm khu công nghiệp, kể cả công nghiệp khai khoáng. Nhiều nơi làm không thành công thì chuyển sang sân gôn.

Như ở Hòa Bình, có những ngọn núi rất đẹp, người ta cho nổ mìn, nghiền đá để bán, lấy đất làm khu công nghiệp. Còn Vịnh Hạ Long là vịnh đẹp hàng đầu thế giới mà người ta nỡ san đá xuống vịnh làm khu công nghiệp!

Tất cả những ví dụ đó là minh chứng rõ ràng của cái hệ lụy “không biết sở trường của mình là gì”.

Thế giới ngày nay đang cạn dần nhiên liệu hóa thạch và tài nguyên tự nhiên. Với sự gia tăng của biến đổi khí hậu toàn cầu thì nông sản sẽ là một hàng hóa khan hiếm. Tức là về dài hạn, thế giới sẽ bước sang một điểm rẽ, nơi nông nghiệp được đánh giá là một ngành hàng có giá trị cao. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận và đối xử với nông nghiệp một cách khác hẳn.

Và chính ngành nông nghiệp lại là một tiền đề để các ngành công nghiệp đi theo nông nghiệp phát triển?

Vấn đề lại là so sánh lợi thế từng nước. Chẳng hạn, Nhật Bản họ không dại gì đi vào nông nghiệp.

Nhưng ở Việt Nam có lợi thế so sánh về nông nghiệp, thì đây không chỉ là cơ hội mà là lối đi duy nhất để bước vào hàng ngũ một nước công nghiệp mới. Bây giờ chúng ta không thể nào nói về ngành công nghiệp ô tô như Nhật Bản, hay điện tử như Hàn Quốc, hay công xưởng như Trung Quốc. Bởi, chúng ta làm gì cũng ở mức lắp ráp và lắp ráp ở mức thấp nhất.

Trong khi đó, làm nông sản thì khác hẳn. Chúng ta có nguồn nguyên liệu, lại sát những thị trường lớn như Ấn Độ và Trung Quốc. Ngoài nông sản, hàng loạt các ngành công nghiệp đi cùng có thể phát triển. Việt Nam là thị trường gần 100 triệu dân, riêng việc cung ứng đủ thị trường nội địa đã là một miếng bánh lớn với giá trị gia tăng rất cao.

Giấc mơ của ông Viện trưởng

Với tư cách là người đứng đầu một cơ quan tham mưu về chiến lược và chính sách nông nghiệp cho chính phủ, xin ông cho biết hình dung của ông về một nền nông nghiệp mà Việt Nam phải xây dựng, để có thể phát huy cái lợi thế so sánh đó?

Thứ nhất, người sản xuất nông nghiệp phải liên kết ngang với nhau làm thành hợp tác xã. Còn các hiệp hội liên kết với nhau thành chuỗi ngành hàng. Người thì sản xuất, người chế biến, người kinh doanh…, tất cả đều gắn với nhau.

Không phải gắn với nhau bằng hợp đồng kinh tế, mà là sự liên kết ba bốn nhà. Bởi vì theo hình thức hợp đồng có cái hay là rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm, nhưng lại có sự lỏng lẻo là người ta ký hay không tuỳ theo ý thích, hoặc dễ bị lợi ích trước mắt chi phối.

Cái liên kết ở đây là liên kết thành một thể chế. Một cá thể mà rời bỏ thể chế đó thì không thể sống được. Nhiều nhà thì mới mua được cái máy, thuê cái cửa hàng …, mới chung nhau thương hiệu, hệ thống tiêu chuẩn, cũng như tiếp cận nguồn tín dụng.

Thứ hai, một chiến lược nông nghiệp mới phải đảm bảo toàn bộ sự liên kết như vậy.

Thứ ba là vấn đề chuyên nghiệp. Đã sản xuất nông nghiệp thì cần phải có tiêu chuẩn, có kỷ luật của một nền sản xuất hiện đại, cũng như đối với các ngành giao thông, vận tải, xây dựng chẳng hạn.

Tức là phải có quy chuẩn, co thương hiệu, có sự đảm bảo chất lượng. Chứ ngành nông nghiệp không thể theo kiểu “cha truyền con nối” như bao đời nay, bao thế kỷ nay, cho tới tận bây giờ.

Qui chuẩn ở đây được hiểu là người sản xuất nông nghiệp phải làm ra một sản phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam, Đông Nam Á, hay châu Âu, tuỳ theo thị trường mà sản phẩm đó hướng tới. Tức là phải học cả kỹ thuật lẫn quản lý.

Như vậy, anh nông dân phải có bằng cấp. Bằng ở đây không phải là cái chứng chỉ khuyến nông được cấp sau mỗi khóa học. Mà anh nông dân đã có “bằng nông dân” phải lái được máy cày, phải biết chăm sóc sản phẩm nông nghiệp như thế nào để người tiêu dùng ăn vào mà không bị ảnh hưởng bởi những loại thuốc và phân bón sử dụng trong quá tình nuôi trồng. Hay anh nông dân phải nuôi trồng thế nào để không ảnh hưởng tới thiên nhiên.

Nói tóm lại, anh nông dân phải biết kiến thức về kỹ thuật, cơ khí, nông học, môi trường và quản lý. Như vậy, không phải ai cũng làm được anh nông dân.

Thậm chí, những người làm nghề nông theo liểu cha truyền con nối, với con trâu đi trước – cái cày theo sau -con người đi sau rốt, cũng không thể làm người nông dân trong tương lai được.

Bằng cấp cũng thể hiện tính chuyên biệt của nghề nông, chứ không chung chung như hiện nay được. Anh nông dân trồng rừng thì phải chuyên nghiệp về trồng rừng, anh nông dân chuyên trồng lúa thì phải chuyên trồng lúa…

Cái mô hình VAC (vườn – ao – chuồng) thể hiện sự manh mún của nền nông nghiệp nhỏ rồi. Đã chăn nuôi là phải nuôi mấy trăm đầu lợn, chứ không phải như người dân tộc để dưới gầm nhà mấy con trâu, mấy con gà, một hai con con bò mà gọi là chan nuôi được. Chăn nuôi phải cách ly ra, rồi khi vào trại chăn nuôi, người nông dân phải làm tuân thủ tất cả các thủ tục, như đi qua vôi, mặc áo quần bảo hộ được khử trùng….

Thứ tư, khi đã sản xuất lớn, chuyên môn hóa và liên kết với nhau rồi, anh nông dân Việt Nam còn phải liên kết toàn cầu.

Chúng ta lấy ví dụ về khu công nghiệp ở Việt Nam cho dễ hiểu. Hiện nay, khu công nghiệp của mình chia làm hai loại. Loại thứ nhất là “thượng vàng hạ cám”, làm ra sản phẩm xong là đưa thẳng ra cửa hàng, đại lý của mình. Loại thứ hai là của các nhà lắp ráp nước ngoài như Canon, Toyota…, và linh kiện từ nhiều nước được nhập vào đây để lắp ráp. Khu công nghiệp loại thứ hai này đang nằm trong liên kết toàn cầu.

Anh nông dân Việt Nam đã làm sản xuất lớn thì phải nằm trong liên kết toàn cầu đó. Tức là dùng nguồn nguyên liệu ở nơi khác, thậm chí nước ngoài nhập về, rồi nâng cao giá trị nó lên. Và tất cả sản phẩm trong thời gian nhất định phải được chuyển đến những nơi nhất định để đưa đi bán trên thế giới.

Như vậy, sản phẩm của người nông dân từ chất lượng, những thành phần hợp thành, thời gian, không gian, đều phải nằm trong liên kết toàn cầu. Đây là cách sản xuất khác hẳn cách sản xuất cũ, khi nhà sản xuất mà không cần biết nhu cầu ở nước ngoài ra sao, hay luật pháp, tỷ giá, hàng rào chất lượng, giá thức ăn gia súc…, như thế nào.

Thứ nữa, các sản phẩm phải được thiết kế sản xuất trên lợi thế so sánh của địa phương và của quốc gia. Chúng ta sẽ có một số sản phẩm quốc gia – đó là những sản phẩm cả nước tập trung vào làm, với sự tham gia của trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm sản xuất giống, và đảm bảo đầy đủ nhãn mác, thương hiệu, bao bì, quảng bá … Giống như người Malaysia với sản phẩm cọ dầu, hay người Brasil làm cây cà phê.

Còn những ngành hàng mà Việt Nam không có lợi thế thì chúng ta kiên quyết chuyển sang nhập khẩu. Tiền từ đâu ư? Từ tiền lãi xuất khẩu.

Ví dụ như sữa, ta không có điều kiện bằng họ, nên chỉ có thể làm ở những vùng có điều kiện nhất thôi. Những cái chúng ta làm được như mía đường, dầu ăn… tiến tới là cà phê. Không dại gì mà cố gắng mọi giá trên những vùng không có thuận lợi để sản xuất sản phẩm có thể nhập khẩu ở nước ngoài với giá rẻ hơn nhiều.

Điểm cuối cùng của nền nông nghiệp tương lai đó là, trong một nền sản xuất lớn, chuyên môn hóa, toàn cầu hóa thì ranh giới giữa đô thị nông thôn bị xóa nhòa, một trang trại sản xuất hiện đại thì mức đầu tư, trình độ của người quản lý, kỹ thuật viên cao không kém gì nền công nghiệp cả. Giá trị sản xuất ra cũng không kém gì nhau cả.

Một khu mà người nông dân sinh sống như vậy đòi hỏi hạ tầng, dịch vụ cao để phục vụ cả đời sống lẫn sản xuất thì chẳng khác gì một khu đô thị hiện đại hiện nay cả. Vì thế nó đòi hỏi ngược lại từ những ngành công nghiệp hỗ trợ, vật tư, giao thông, hạ tầng, cảng biển… Một nền nông nghiệp như thế phải gắn với một xã hội hiện đại đòi hỏi sự liên kết công nghiệp – nông nghiệp, đô thị – nông thôn phải rất chặt chẽ. Đó là bức tranh của một nền nông nghiệp hiện đại.

Những thách thức không dễ vượt qua

Đây đó nhiều điểm trong bức tranh ông đưa ra đã được người ta nhắc đến, nhưng tại sao đến giờ vẫn chỉ là một viễn cảnh thôi?

Muốn làm được nền nông nghiệp như thế sẽ có những khó khăn rất lớn mà cho đến bây giờ vẫn chưa xử lý được.

Thứ nhất, tích tụ đất đai, muốn làm được nền sản xuất nông nghiệp lớn thì phải tích lũy được đất đai. Như vậy, luật và chính sách đất đai phải có thay đổi. Từ trước đến nay, luật và chính sách đất đai của chúng ta thiên về bảo vệ công bằng, chia phải chia đều, và không khuyến khích tích tụ đấy đai. Nói cách khác, chúng ta vẫn bị ám ảnh bởi cái định kiến về địa chủ thời phong kiến, mà không nhận thức được rằng tư duy tiểu nông mới là thách thức lớn nhất của một nền nông nghiệp hiện đại và hiệu quả.

Thứ hai, trong đất đai, sở dĩ có cái khái niệm sở hữu toàn dân là vì chỉ sợ đất đai rơi vào tay tư nhân, sau này nhà nước cần không lấy lại được.

Quan điểm của ông?

Với định hướng cho một nền sản xuất như vậy, đất đai phải thuộc về tay những người làm ăn có hiệu quả, để đất đai phải phát huy tác dụng và được bảo vệ. Rõ ràng hai mục tiêu của luật đất đai và nền sản xuất mới của chúng ta đang rất khác nhau. Thay đổi là đều không dễ.

Những người ủng hộ cho quan điểm công bằng kiểu cào bằng lập luận rằng nếu tiến hành tập trung hóa đất đai thì lao động dư thừa sẽ giải quyết ra sao?

Nền sản xuất ngày nay khác với nền sản xuất thế kỉ 18-19 là phát triển theo chiều rộng, tăng vốn, tăng lao động và giờ làm, theo công thức của Mác, thì đầu ra tăng. Nhưng hiện nay, việc đảm bảo cho đầu ra tăng lên còn bao gồm cả khoa học công nghệ.

Như thế bài toán tiếp sau đất đai là giải quyết lao động. Hiện nay, chúng ta không có một ngành công nghiệp nào mà chúng ta có thể tăng lao động lên để lấy sản phẩm cả, bởi nó vẫn bị giới hạn về quy mô công nghệ, nhà xưởng, thị trường… Hơn nữa, về lâu dài, Việt Nam không thể cạnh tranh với các nước có giá lao động thấp hơn.

Vì vậy, chúng ta cần nghĩ đến đầu ra khác, nhất là với một nền kinh tế có lao động chất lượng chưa cao như hiện nay. Chúng ta phải đối mặt với một thách thức là chuyển nền giáo dục đang khủng hoảng của chúng ta sang một nền giáo dục có thể nâng cao chất lượng tay nghề. Bởi vì khi muốn thu hút lao động sang ngành khác thì chỉ có một đối pháp đó là đào tạo người lao động lên trình độ cao hơn.

Ông nghĩ sao về câu chuyện chuyên mốn hoá sản xuất nông nghiệp? Không ít nông dân, nhất là ở miền Bắc, vẫn sống tạm ổn với cái mô hình VAC mà ông cho là nhỏ lẻ, manh mún.

Vấn đề chuyên môn hóa nông dân cũng là thách thức lớn. Nếu nông dân được chuyên môn hóa thì quan trọng nhất thì cần phải có động lực để buộc người ta chuyên môn hóa. Tức là phải học lên, tham gia thi, anh nào không lấy được bằng thì phải tự rút ra.

Kinh nghiệm của những nước thành công với chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp là họ đặt ra những tiêu chuẩn rõ ràng, có “bằng” thì mới được tích tụ được đất đai, được vay vốn, được bảo hiểm nông nghiệp, nông sản họ làm ra mới được đóng dấu chất lượng và được bán với giá cao…

Khi quyền lợi được đặt ra thì người ta sẽ muốn làm nông dân và chủ động đi học, đi thi để lấy “bằng nông dân”. Chứ hiện nay những người đang buôn bán đất đai, bất động sản, hay vật tư, đều cho anh nông dân là mạt hạng nhất, ai cũng có quyền làm nông dân và có thể làm nông dân.

NÔNG DÂN CẤY LÚA Ở SÀI ĐỒNG, GIA LÂM (Theo REUTERS)

Đó là những câu chuyện về mặt chính sách, đòi hỏi phải rất cương quyết, nhất là trong vấn đề tích tụ đất đai. Mà những người hiện nay có nhà vườn, trang trại, không trực tiếp sản xuất mà đi thuê người làm. Chúng ta đặt ra tiêu chuẩn “người nông dân phải là sản xuất trực tiếp. Cần một quyết tâm rất lớn của xã hội và đó là thách thức rất lớn.

Đúng vậy. Về mặt xã hội, đây cũng là cách trả lại vị thế công bằng cho người nông dân.

Nhân nói đến chuyện này, sự bất bình đẳng về đối xử giữa thành thị và nông thôn cũng là một thách thức không nhỏ đối với mục tiêu liên kết giữa đô thị và nông thôn. Anh nông dân bị cấm không được nhập hộ khẩu vào Hà Nội, không được mang xe công nông vào Hà Nội. Hay gần đây còn bị cấm không được gánh hàng rong vào nhiều tuyến phố ở Hà Nội

Thế nhưng, anh nông dân thì không có quyền được cấm gì anh thành thị cả. Cái gì tốt nhất của nông thôn, từ con người đến nông sản, thì đô thị lấy hết. Còn những thứ đô thị thải ra thì mang về nông thôn. Lúc ngon lành thì lên thành phố mong lập nghiệp, tìm vận may, đến khi thất bại thì “về quê”.

Vấn đề ở đây không phải chuyện cấm, mà phải hòa hợp với nhau. Câu chuyện này sẽ đụng chạm tới rất nhiều vấn đề. Như muốn giải quyết vấn đề quyền chuyên môn hóa của người nông dân thì phải xử lý được nhóm lợi ích. Làm thế nào để quyền hạn, vị thế của người nông dân cũng được công nhận như công chức, thị dân, hay doanh nhân.

Dường như những vấn đề ông đặt ra không chỉ đụng chạm tới luật pháp, thậm chí là Hiến Pháp, hay chính sách, mà còn là vấn đề thay đổi quan niệm xã hội?

Còn sao nữa. Tất cả những cái đó sau cùng vẫn qui về khái niệm “thay đổi tư duy”. Anh sẽ phải nghĩ rằng nông nghiệp không phải là đám đông nhất, nghèo nhất và lạc hậu nhất, nằm ở bên ngoài đô thị và dòng chảy của sự phát triển, mà phải thấy đó chính là nền tảng của sự phát triển bền vững, là cái phao đỡ cho quá trình phát triển.

Hơn thế nữa, như Michael Porter đã nhận xét, lợi thế so sánh duy nhất của Việt nam là nông nghiệp. Muốn nền kinh tế thị trường phát triển, trước hết anh phải dựa vào lợi thế so sánh của mình. Như vậy, nông nghiệp ít nhất phải được sánh ngang hàng với các khu vực kinh tế khác.

Xin cám ơn ông.

Huỳnh Phan