Lỗ Tấn: Quan niệm về tiết liệt

Posted on 21/04/2012

0


1322366313-khoa_trinh_tiet-12

Đề thi của FPT Uni gây tranh cãi tới mức…nên xem lại ngót trăm năm trước nhà văn số một của Trung Quốc thế kỷ XX đã quan niệm cách tân tới đâu rồi.

Một đề tài tưởng như tân tiến, thời thượng, thậm chí xứng đáng để “câu view”, hóa ra lại là “Mở cái ngàn vàng”… đóng cái tư duy! (ý của nhà báo Kỳ Duyên).

Đọc đề thi mới thấy, chuyện “phúc thống phục nhân sâm” thời nào cũng có. Điển hình ở nhận định về lý do “Ngày xưa…người vợ bị đem trả lại”. Ôi, nếu quả là thế, lịch sử làm sao có được những Dương Quý Phi, Võ Tắc Thiên…, hay làm sao những vĩ nhân như Nguyễn Trãi (và không chỉ có trường hợp Nguyễn Trãi) được nuôi dạy nên người…

Bài liên quan:
·        GS.Nguyễn Minh Thuyết: “Đề thi của ĐH FPT thô tục đến khó chấp nhận”
·        GS Nguyễn Lân Dũng: Đề ‘trinh tiết’ có gì thô tục?
·        Từ FPT đến VPT
·        Học sinh đỏ mặt với đề thi trinh tiết
·        Bị xâm hại, nữ sinh viên nhảy cầu Chương Dương
·        Sự lên ngôi của thói vụ lợi

“Thế đạo ngày một bạc bẽo, nhân tình ngày một hư hỏng, nước chẳng ra hồn nước”, đó là những câu than thở xưa nay của người Trung Quốc. Có điều, thời đại đổi khác thì chuyện gọi “là ngày một hư hỏng” cũng có biến thiên. Trước kia, câu đó chỉ việc A, thì nay lại chỉ việc B. Trừ thứ “tiến trình ngự lãm” không dám nói nhảm nói dại, còn thì trong nghị luận văn chương, xưa nay đều có cái giọng ấy hết. Bởi vì than thở như thế, chẳng những châm biếm người đời mà còn có thể đặt mình ra ngoài cái “ngày càng hư hỏng” kia nữa. Cho nên, các bậc quân tử cố nhiên nhìn nhau mà than thở, ngay bọn giết người, đốt nhà, chơi gái, lừa tiền, đến những bọn ma mãnh làm xong những tội ác, thừa khi nhàn rỗi, cũng lắc đầu nói: “Nhân tình ngày một hư hỏng” (NABB: “nhân tình” ở đây là tình người, không phải “người tình”).

Cái việc thế đạo nhân tình, không những khi nó cổ vũ chuyện xấu là có thể nói “ngày càng hư hỏng” mà khi nó chưa từng cổ vũ, chỉ bàng quan, chỉ thưởng thức, chỉ than thở, cũng có thể nói nó “ngày càng hư hỏng” rồi.

(NABB: lược bớt một đoạn về Khang Hữu Vi)

Thế rồi họ nghĩ ra một phương pháp bổ cứu, gọi là “biểu dương tiết liệt”.

Trong nghị luận văn chương cũng chiếu theo lệ thường xuất hiện, và cũng kêu gào “biểu dương tiết liệt” ! Nếu không nói đến việc đó thì cũng khó lòng nhấc mình ra khỏi cái vòng “nhân tình ngày càng hư hỏng” được.

Hai chữ tiết liệt đó, trước kia cũng kể là đạo đức của người đàn ông, cho nên mới có những tên gọi như “tiết sĩ”, “liệt sĩ”. Nhưng cái “biểu dương tiết liệt” hiện nay thì chuyên chỉ đàn bà, không bao gồm đàn ông vào đấy. Căn cứ vào ý kiến các nhà đạo đức bây giờ để mà định nghĩa thì đại khái “tiết” là chồng chết, quyết không tái giá, cũng không chằng chạ với ai, chồng chết càng sớm, nhà càng nghèo, thì “tiết” càng cao. Nhưng “liệt” thì có những hai loại: một loại thì vô luận đã về nay chưa về nhà chồng, nếu chồng chết, người đàn bà cũng chết theo; một loại nữa là lúc có một bọn cường hào đến hãm hiếp, người đàn bà tìm cách liều mình, hoặc giả chống cự mà bị giết, đều được cả. Cái này cũng thế, chết càng thê thảm, càng đau khổ, thì “liệt” càng cao. Nếu không kịp chống cự, lại bị ô nhục, rồi sau đó mới liều mình, thì không tránh khỏi dư luận. Muôn một gặp được một nhà đạo đức khoan hồng, thì có lúc ông ta cũng có thể kể qua sự tích, thể tình cho và tặng một chữ “liệt”. Nhưng văn nhân học sĩ, thì rất không muốn viết truyện về chị ta, nếu miễn cưỡng phải cầm bút, cuối cùng không khỏi chêm vào mấy chữ: “Tiếc thay, tiếc thay”.

Nói tóm lại, đàn bà chết chồng, cứ ở vậy, hoặc giả chết theo; gặp kẻ cường bạo, rồi chết; đem những người như thế tán dương một hồi, tức thì thế đạo nhân tình tốt lên, có thể cứu được Trung Quốc. Đại để‎ chỉ như thế.

Tôi có mấy chỗ thắc mắc phải đề ra, lại muốn theo ‎ý kiến riêng mà giải đáp.

Thắc mắc thứ nhất là: người đàn bà không tiết liệt (Trung Quốc gọi “không thủ tiết” là “thất tiết”, còn “không liệt” thì không có thành ngữ nào, cho nên chỉ có thể gọi chung là “không tiết liệt”), hại đến quốc gia như thế nào. Theo tình hình hiện nay, “nước không ra hồn nước”, thì không phải nói nữa. Những chuyện táng tận lương tâm cứ xảy ra liền liền; đạo binh, đạo tặc, thủy hạn, cơ hoang, lại cứ nối tiếp nhau. Nhưng có những hiện tượng như thế chỉ là vì không theo đạo đức mới, học vấn mới, hành vi tư tưởng đều sao chép cái cũ, cho nên mọi thứ đen tối cứ phảng phất như thời đại loạn lạc cổ xưa, huống hồ trong chính giới, quân giới, học giới, thương giới, vân vân, toàn là đàn ông, chứ không có người đàn bà nào không tiết liệt xen vào cả. Cũng vị tất đó là những người đàn ông có quyền lực, vì bị họ mê hoặc, mới mất lương tâm, phóng tay làm điều ác. Còn như thủy hoạn, cơ hoang là tai họa do cứ cúng Long Thần, rước Đại Vương, phá rừng rú, không tu sửa thủy lợi, là kết quả của việc không có tri thức mới, càng không có liên quan tới đàn bà. Chỉ có đao binh, đạo tặc thường tạo ra các phụ nữ không tiết liệt. Những cũng là đao binh trước, rồi không tiết liệt sau, chứ không phải vì họ không tiết liệt mới sinh ra đao binh đạo tặc.

Thắc mắc thứ hai là: làm sao trách nhiệm cứu đời lại toàn trút cho người đàn bà cả? Nói theo phái cũ thì đàn bà là “âm loại”, là “chủ nội”, là vật phẩm phụ thuộc người đàn ông. Thế thì việc trị thế cứu quốc chính là phải do “dương loại” chịu trách nhiệm, hoàn toàn nhờ vào “ngoại tử”, nhờ vào “âm loại” được. Nếu theo thuyết mới, nam nữ bình đẳng, nghĩa vụ như nhau. Giá thử bắt gánh vác trách nhiệm, thì gánh nặng cũng phải chia đôi, một nửa đàn ông kia, ai nấy đều phải làm tròn nghĩa vụ. Không những phải trừ khử cường bạo mà còn phải phát huy mặt đạo đức tốt đẹp. Không thể toàn dựa vào việc trừng phạt, răn đe người đàn bà mà cho là làm trọng thiên chức.

Thắc mắc thứ ba là: biểu dương rồi, hiệu quả như thế nào? Lấy tiết liệt làm gốc mà phân loại tất cả những người đàn bà còn sống, đại khái không ngoài ba loại: một loại là những người đã thủ tiết, cần phải biểu dương (những người “liệt” tất đã chết rồi, cho nên trừ ra ngoài); một loại là những người không tiết liệt; còn một loại nữa là những người chưa xuất giá, hoặc chồng còn sống, lại chưa găp cường bạo, có tiết liệt hay không chưa thể biết được. Loại thứ nhất đáng được biểu dương, không phải bàn. Loại thứ hai – không tốt rồi; Trung Quốc xưa nay không cho sám hối, người đàn bà mắc sai lầm là không thể bổ cứu được nữa, đành để cho họ xấu hổ mà tự tử đi thôi, cũng không cần phải bàn. Quan trọng bậc nhất chỉ còn loại thứ ba. Bây giờ được cảm hóa, họ đều quyết tâm mà nói: “Nếu tương lai chồng chết, quyết không tái giá, gặp cường bạo thì tự sát ngay!” Thử hỏi quyết tâm như thế thì có quan hệ gì tới thê đạo nhân tâm của Trung Quốc khi người đàn ông làm chủ? L‎ý do đó đã được giải thích trên kia.

Còn có một thắc mắc phụ nữa là : người tiết liệt được biểu dương, thế là phẩm cách cao nhất rồi. Thánh hiền thì ai cũng học được, nhưng việc này thì không thể theo được. Giá thử người thuộc loại thứ ba, tuy lập chí rất cao, vạn nhất chồng vẫn sống dai, thiên hạ thái bình, thế là đành phải nuốt hận làm thinh, suốt đời làm hạng người tầm thường vậy.

Theo cái các phân loại tiết liệt trên kia, loại “liệt” thứ nhất kỳ thực cũng chỉ là thủ tiết, chẳng qua khác nhau ở chỗ một đằng sống, một đằng chết mà thôi. Bởi vì các nhà đạo đức phân loại toàn căn cứ vào chỗ sống hay chết, cho nên mới bỏ vào loại “liệt”. Loại thứ hai thì tính chất khác hẳn. Loại này chẳng qua là kẻ yếu đuối (hiện nay, đàn bà vẫn còn là kẻ yếu đuối) bỗng gặp phải bọn cường bạo đàn ông. Cha, anh, chồng, đều không thể cứu được, làng xóm láng giềng cũng không giúp đỡ cho, thế là người đàn bà đó chết; hoặc giả bị nhục rồi chết; hoặc giả cuối cùng cũng không chết. Mãi về sau, rất lâu, cha, anh, chồng, làng xóm, láng giềng, cùng với văn nhân học sĩ và các nhà đạo đức, dần dần tụ tập lại. Họ đã không xấu hổ vì mình khiếp nhược, bất lực, cũng không nói nên trừng trị bọn cường bạo như thế nào, chỉ nhao nhao lên, bàn tán xem người đàn bà có chết không, bị nhục hay không, chết thì tốt ở chỗ nào, sống thì xấu ở chỗ nào? Thế là họ tạo ra bao nhiêu liệt nữ quang vinh và bao nhiêu bất liệt nữ bị người đời dùng lời nói, dùng bút mực mà chửi mắng, xỉ vả. Chỉ cần bình tâm suy nghĩ thì thấy đó không giống việc mà nhân gian nên có, nói gì đến đạo đức.

Hai là, những người đàn ông nhiều vợ thì có tư cách để biểu dương tiết liệt hay không (*)? Nói thay nhà đạo đức ngày trước, nhất định là có thể biểu dương. Bởi vì phàm là đàn ông tức là đã có điểm khác người thường rồi, trên xã hội chỉ đáng có họ mà thôi. Mặt khác, họ lại dựa vào điển cố âm, dương, nội ngoại, mà tỏ tài năng trước mặt người đàn bà. Nhưng đến ngày nay, mắt loài người không khỏi đã nhìn thấy ánh sáng rồi; người ta hiểu được thuyết “âm, dương”, “nội, ngoại” là láo toét. Mà dù có như vậy chăng nữa, cũng không thể chứng minh được rằng “dương” thì đáng tôn quy hơn “âm”, “ngoại” cao thượng “hơn “nội”. Huống chi, quốc gia xã hội không phải chỉ do người đàn ông tạo nên. Cho nên đành phải tin vào chân lí‎ rằng nam nữ đều nhất luật bình đẳng. Đã là bình đẳng, người đàn ông cũng như người đàn bà đều có một khế ước nhất luật phải giữ. Người đàn ông quyết không thể lấy cái việc bản thân mình không giữ mà lại đòi bắt riêng người đàn bà phải giữ. Nếu là hôn nhân theo lối, mua bán, lừa dối, cống hiến, mà đòi hỏi trinh tiết lúc người đàn ông đang sống, còn không có lí, huống hồ những người đàn ông nhiều vợ lại biểu dương tiết liệt của người đàn bà.

Trở lên trên đã nói những điều thắc mắc và những câu giải đáp. Lí do lung tung như vậy, tại làm sao tiết liệt vẫn còn có thể tồn tại cho đến ngày nay? Để trả lời câu hỏi này, trước hết phải xem xét tiết liệt, vì đâu mà sinh ra, vì đâu mà phổ biến, vì đâu mà không có sự đổi mới.

Trong xã hội thời cổ, người đàn bà phần lớn là vật phẩm của người đàn ông. Giết hay ăn thịt đều được cả. Người đàn ông chết, thì đem người đàn bà chôn theo, cùng với của quí mà người đàn ông thích, cùng với đồ binh khí mà người đàn ông dùng hàng ngày, càng được lắm. Về sau, phong tục chôn đàn bà như vậy đã thay đổi dần dần, thì cũng dần dần sinh ra việc thủ tiết. Nhưng đại để vì người đàn bà góa là vợ ma, linh hồn người chết cứ bám theo, không ai dám lấy, chứ không phải bắt chị ta không được thờ hai chồng. Phong tục đó, trong xã hội loài người dã man ngày nay vẫn còn.

Quốc dân sắp rơi vào địa vị bị chinh phục thì thủ tiết càng thịnh; liệt nữ cùng từ đó được tôn trọng. Bởi vì đàn bà đã là sở hữu của đàn ông, mình chết, thì không được lấy người khác, mình còn sống, tất nhiên lại không để cho ai cướp đoạt. Nhưng khi mình lại là quốc dân bị chinh phục, không có sức che chở , không có dũng khí phản kháng, đành phải nghĩ ra cách khác, cổ võ đàn bà tự sát. Hoặc giả những người giàu sang, lắm vợ, những nhà phú ông tì thiếp từng đàn, thời buổi loạn li, không thể lo liệu được, khi gặp nghịch binh (hoặc “thiên binh”) thì chẳng biết làm thế nào. Chỉ có thể cứu lấy thân và để người khác làm liệt nữ vậy. Đã thành liệt nữ thì “nghịch binh” không thèm nữa. Chờ lúc đã yên ổn, lục tục trở về, tán thưởng vài câu. Người đàn ông tục huyền, lại là thiên kinh nghĩa địa, hỏi vợ khác, thế là hết. Nhân đó, trên đời mới có Song liệt hợp truyệt, Thất cơ mộ chí, đầy rẫy những truyện và lời ca tụng “tiết phụ họ Triệu, “liệt nữ họ Tiền”.

Còn một điều thắc mắc nữa là:

Tiết liệt có khó không?

Trả lời: rất khó. Đàn ông biết là rất khó, cho nên mới biểu dương. Dư luận xã hội xưa nay vẫn cho rằng trinh tiết hay không trinh tiết, dâm dục hay không dâm dục là do đàn bà cả. Đàn ông tuy dụ dỗ đàn bà, nhưng lại không chịu trách nhiệm. Thí dụ, anh A dụ dỗ chị B, chị B không bằng lòng, thế là trinh tiết, nếu chết, thế là liệt. Còn anh A thì không mang tiếng xấu và xã hội vẫn trong sạch như thường. Nếu chị B bằng lòng, thế là thất tiết : anh A cũng không mang tiếng xấu, nhưng phong tục đã bị chị B làm cho bại hoại rồi. Chuyện khác cũng như thế. Cho nên trong lịch sử, nguyên nhân mất nước tan nhà tất cả đều đổ cho đàn bà. Đàn bà cứ mơ mơ hồ hồ như thế gánh thay tất cả tội ác đã hơn ba nghìn năm rồi. Người đàn ông đã không chịu trách nhiệm, lại không biết tự xét mình, tất nhiên cứ yên trí mà dụ dỗ. Nhà văn làm sách nói về họ, vẫn khen. Cho nên, xung quanh người đàn bà cơ hồ đầy những mối nguy. Trừ cha, anh, chồng ra không kể, còn thì toàn là ma quỷ dụ dỗ. Cho nên mới nói là rất khó.

Tiết liệt có khổ không?

Trả lời: rất khổ. Đàn ông biết là rất khổ, cho nên mới biểu dương. Phàm là người ai cũng muốn sống. Liệt tất phải chết, không cần nói, nhưng tiết phụ thì còn sống. Cũng chưa bàn về nỗi đau tinh thần, nguyên chuyện sống cũng đã là một nỗi khổ đau lớn rồi. Giả sử sinh kế người đàn bà có thể độc lập được, xã hội biết giúp đỡ cho, thì một mình có thể gắng gượng mà sống. Không may tình hình Trung Quốc lại trái hẳn thế. Cho nên, có tiền còn khá, nghèo thì đành chết đói. Khi chết đói rồi có thể được vờ biển biểu dương, và còn được ghi tên vào sử sách. Cho nên cuối những cuốn truyện ký‎, chí thư của các huyện, các phủ, thường có mấy chương dành cho những “liệt nữ”. Một hàng một người, hoặc một hàng hai người, Triệu, Tiền, Tôn, Lý, nhưng xưa nay chưa ai đọc đến. Ngay những nhà đạo đức lớn suốt đời sùng bái tiết liệt, nếu có hỏi trong chí thư huyện họ, mười người liệt nữ đầu tiên là ai, sợ họ không nói được. Kỳ thực, những người liệt nữ kia khi còn sống cũng như lúc chết rồi, chẳng có liên quan gì đến xã hội cả. Cho nên mới nói là rất khổ.

Nói như vậy thì không tiết liệt có khổ không?

Trả lời : cũng rất khổ. Đối với dư luận xã hội, người đàn bà không tiết liệt là tồi. Xã họi không thể dung thứ cho họ được. Cái đạo l‎ mà đa số người đời truyền lại trong xã hội một cách mơ hồ thế, quả là vô lí hết sức, có thể lấy lực lượng của lchj sử và của số đông mà ép nhưng người không hợp ý mình cho đến chết. Trong xã hội giết người vô danh và vô y thức này, xưa nay không biết bao người đã phải chết đi; người đàn bà tiết liệt cũng chết ở đấy. Có điều, chết rồi, có lúc họ còn được biểu dương, được ghi tên vào sử sách. Những người không tiết liệt thì lúc sống, bất cứ ai cũng có thể tùy tiện thóa mạ, bất cứ lúc nào cũng có thể bị ngược đãi mà chẳng rõ ai là thủ phạm chính. Cho nên mới nói là rất khổ.

Bản thân người đàn bà có muốn tiết liệt không?

Trả lời: không. Người ta ai cũng có một lí tưởng, một hy vọng, tuy cao thấp khác nhau, nhưng tất phải có ý nghĩa. Có lợi cho mình, có lợi cho người khác, cố nhiên là tốt nhất, ít ra cũng phải có ích cho bản thân. Tiết liệt rất khó, rất khổ, đã không lợi cho người lại không lợi cho mình. Nói rằng bản thân người đàn bà muốn như thế, thì thật là không hợp với nhân tình. Cho nên, giá thử gặp một người đàn bà còn trẻ mà ta thành tâm chúc cho tương lại được thành tiết liệt thì nhất định người đó sẽ nổi giận, hoặc giả ta sẽ nhận được quả đấm của cha, anh, chồng người đó. Có điều người đó vẫn bị lực lượng của lịch sử và số đông ép chặt, không thể nảo thoát được. Nhưng bất cứ người nào cũng đều sợ cái tiết liệt đó cả, sợ nó bám lấy mình và những người máu mủ của mình. Cho nên mới nói rằng họ không muốn.

Căn cứ vào những sự việc và những lí do nêu trên, tôi kết luận: tiết liệt là một hành vi cực khó, cực khổ và không ai muốn mỉnh phải chịu, nhưng không lợi cho mình, không lợi cho người, vô ích với quốc gia, đối với xã hội, mà đối với nhân sinh, đối với tương lai cũng không có ý nghĩa gì cả, bây giờ không có giá trị, không có lí do tồn tại nữa rồi.

LỖ TẤN – VIẾT NĂM 1918

(*) Điều thú vị là Lỗ Tấn có hai vợ, người vợ đầu không được ông yêu thương nhưng vẫn thủ tiết với ông. Có lẽ vì thế mà ông có quan điểm rất chia sẻ với thân phận thiệt thòi của người phụ nữ chăng?

Posted in: VĂN NGHỆ