Tạm bợ đời thợ

Posted on 26/05/2012

0


MTimes

Trái đất ba phần tư nước mắt

Trôi như giọt lệ giữa không trung

(Xuân Diệu)

Bài liên quan: Cơm công nhân: Giá 15 ngàn đồng còn bị ăn bớt

Tạp chí Cộng Sản: Vài suy nghĩ về đời sống văn hóa tinh thần của nữ công nhân

LTS: Dù nhan nhản người đã 10, 15 lăm năm làm công nhân, chỉ phải mất thêm chừng nửa số thời gian đã tích luỹ bảo hiểm là có thể hưởng lương hưu. Cũng không ít người đưa cả đại gia đình dài đến bốn thế hệ với hàng chục con người, từ bỏ ruộng vườn, mồ mả tổ tiên lên sống tại những đô thị, cha mẹ, con cái cùng sóng bước vào cổng xí nghiệp. Có kẻ đã tha hương đến quá nửa tuổi đời, bỏ phần nhiều sức khoẻ, tuổi xuân ở các khu công nghiệp, thành vợ – chồng, sinh con đẻ cái. Nhưng hình như với họ, đời công nhân vẫn chỉ là tạm bợ. Tạm bợ từ miếng ăn, chỗ ở, công việc đến tình yêu, lẽ sống và kiếp người. Đặc biệt, trong thời điểm kinh tế khó khăn này, sự tạm bợ đó càng trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Sau đây là ghi nhận của phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị sau những ngày làm công nhân cùng với hơn 1.000 con người khác tại doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ tên L. ở một khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương.

Bài 1: Những bữa ăn cầm hơi

SGTT.VN – Đúng 11 giờ 30, tiếng còi hơi réo lên inh tai như còi tàu thuỷ báo hiệu đến giờ nghỉ trưa, gần 200 con người đổ xô ra cổng, họ chen vai nhau, bước tất bật, vội vàng. Bốn tiếng rưỡi lao động buổi sáng đã xong, công nhân được nghỉ một tiếng ăn trưa.

Ăn dưới 10.000 đồng

Trong xưởng giờ chỉ còn lại gần chục người, hầu hết là phụ nữ. Uể oải, bà Thành ngồi bệt xuống nền, bật nắp hộp cơm bằng nhựa mang theo, bên trong, chừng hai lưng cơm và miếng cá khô chiên cháy bằng ba ngón tay. Ít nhất, đã ba ngày nay, phần ăn của bà không thay đổi. Cạnh đó, phần ăn của bà Ba sang hơn, hai trái trứng vịt luộc, thêm chén canh suông. Hảo, người dân tộc thiểu số, chạy đi múc miếng nước đổ vào ấm điện (xưởng dùng để nấu nước sôi tẩy rửa) và bóc mì gói làm canh. Trong gần chục gô cơm trưa hôm đó, chỉ duy nhất một phần có thịt, bốn miếng nhỏ cỡ ngón tay cái. Một người biết đi chợ cũng tính ngay được không phần ăn nào quá 10.000 đồng, cho dù, công ty trả tiền ăn 13.000 đồng/bữa.

Chỉ chừng năm phút, tất cả đã nuốt xong cơm. Bà Thành bước ra bình nước, cầm ca, ngửa cổ uống đến “ực” một cái. Trước cái nhìn tò mò của một công nhân mới, bà cười ngượng: “Hôm nay lại cá khô”. Bốn tiếng rưỡi toàn đứng và đi, bước thêm vài ba trăm mét về phòng trọ dưới trời nắng như đổ lửa cũng trở nên nặng nhọc với người đã ngoài 40 tuổi.

Cách đó ngoài trăm bước chân, quán cơm bụi cũng tấp nập, nhưng toàn là dân phụ hồ. Dù xưởng có gần 200 công nhân, chỉ có hai người ghé ăn, một đang bệnh nặng, một bị hỏng xe. 15.000 đồng một phần, cơm thêm, trà đá thoải mái. Người bệnh tên Diễm An xuýt xoa: “Mắc hơn nấu nhưng em đi không nổi”. Cuối năm ngoái, cô bị tai nạn, tưởng chết, một mảng hộp sọ còn đang gửi ở bệnh viện chờ khi có đủ tiền mới lắp vô. Trưa nay không thấy cô “tự bồi dưỡng” bằng một hộp sữa tươi Vinamilk như mấy ngày trước vì buổi sáng, cô đã uống nó thay ăn.

Bữa sang

Thường lệ, cứ gần 6 giờ sáng, Tráng đi chợ mua đồ ăn cho cả ngày. Mang tiếng là “đi chợ” nhưng chỉ là bước ra cái quán tạp hoá gần đó. Rau: bữa thì bó muống già, khi lại cây cải thảo bằng bắp tay, hoặc mấy trái cà chua, dưa leo… Tất cả đều chia đôi, bữa trưa nhiều hơn chút. Mặn: vài ba quả trứng vịt, đậu hũ hoặc cá khô. Ngày hôm trước, sau khi cho tôi, người mới ở cùng phòng được nếm bữa trưa bằng hai quả trứng chiên mặn chát cộng nửa lon cá hộp và bữa tối bằng tô mì gói một trứng vào 9 giờ đêm (sau khi tăng ca về), nên hôm nay Tráng đãi tôi món tôm rim. Hành trình đi mua tôm sáng hôm đó lại phức tạp, cửa hàng tạp hoá không bán đồ tươi sống (thịt, cá) nên Tráng phải gửi 40.000 đồng để chủ quán mua giúp, trưa ghé lấy. Vừa đảo 15 con tôm sú nhỉnh hơn đầu đũa trong cái chảo đã cụt cán, người thanh niên 25 tuổi này chặc lưỡi: “Tôm to ghê!” “Hôm nay ăn sang thế?”, tôi hỏi. “Đãi anh đấy! Lâu lâu mà”, Tráng nói. Vào bữa, cả chủ và khách cùng để ý nhau “gắp đi anh”, mỗi chén cơm một con, khách ăn ba, chủ ăn hai. Số tôm còn lại ăn đến tối hôm sau mới hết.

Đã bảy năm bám trụ ở công ty, Tráng đã có tiền trách nhiệm, tháng nào thấp nhất cũng lãnh được 3,5 triệu đồng, khi nào có tăng ca, tiền lương tăng thêm khoảng 1 triệu đồng nữa. Kế hoạch chi tiêu của chàng thanh niên chỉ nặng 45kg này gói khá gọn: ăn một ngày (hai bữa) tối đa 20.000 đồng, kể cả mắm muối. Mỗi tháng, tiền phòng trọ cộng tiền điện nước: 400.000 đồng, ăn sáng: 250.000 đồng, mọi thứ lặt vặt khác: 100.000 – 200.000 đồng nữa. Không càphê, quán xá, một ngày hút ba điếu thuốc loại rẻ nhất, thỉnh thoảng nhậu tại phòng với mấy bạn trong khu trọ, tiền rượu là chính, 12.000 đồng/lít. Chấm hết. Nhẩm tính, mỗi tháng một công nhân chỉ xài hết 1/3 thu nhập của mình.

Tuy đi chợ từ sáng sớm, nhưng không ai nấu ăn sáng, họ chỉ cắm nồi cơm, rửa rau, ướp đồ ăn để trưa về nấu cho nhanh. Như hầu hết công nhân ở đây, cả hai anh em chúng tôi ghé vào xe bánh mì ngay cổng xưởng mua hai ổ, loại lớn 8.000 đồng, nhỏ 7.000 đồng. Đồ ăn sáng có năm loại: xôi (rẻ nhất), bánh mì, bún, mì – hủ tíu gõ, phở. Giá cao nhất 10.000 đồng/tô. Tráng chậm rãi gặm, vừa đến nửa ổ, cậu ta gói lại “để dành đến nửa buổi ăn tiếp” vì lúc đó ai cũng đói. Tráng hay ăn bánh mì vì vừa đỡ 3.000 đồng, vừa để dành được.

Bồi dưỡng mì gói

Tối nay tăng ca, công nhân được nghỉ nửa tiếng đi ăn, từ 6 – 6 giờ 30 phút. Chẳng ai về nhà ăn cơm kịp vì thời gian ngắn quá, mọi người ra quán hoặc nhịn. Lại những món buổi sáng, có thêm cháo vịt. Ngoài Tráng, tôi rủ thêm hai vợ chồng công nhân, bốn tô cháo dọn ra, rau trộn sẵn, kèm ba miếng thịt vịt mỏng và miếng tiết heo. Bàn bên cạnh, mấy cô cậu công nhân trẻ, vừa ăn vừa tán tỉnh nhau, nhưng khi tính tiền cũng phần ai nấy trả. Góc bên kia, Hảo đang đứng một mình, cô nhịn. Bà Thành ngồi lại trong xưởng, sáng nay bà mang thêm hai củ khoai lang luộc.

8 giờ 30 tối, ngày làm việc đã cạn. Sau 12 tiếng đồng hồ chỉ đứng và đi, đôi chân bây giờ như muốn rụng ra. Cả hai ghé vô quán mua ba gói mì, hai quả trứng gà công nghiệp (một gói mua giùm cho một công nhân đang có bầu ở cùng dãy trọ) và hai bịch dầu gội. “Sao không mua luôn cả thùng mì, vừa rẻ hơn vừa đỡ mất công”, tôi hỏi. “Mua nhiều sẽ ăn nhiều, nhanh hết”, Tráng nói. Khát nước quá, tôi lấy thêm hai chai nước Trà xanh không độ trước sự can ngăn của Tráng. Tu được nửa chai, cậu ta dừng lại, vặn nắp “để dành buổi tối”. Ở phòng, bình nước 20 lít giá 7.000 đồng sau ba tháng uống đã cạn trơ từ hai hôm trước, nhưng phải đợi chủ nhật, Tráng mới đi mua vì “giờ chưa đến tháng”.

Tôi cầm gói mì mua giùm sang phòng trọ kế đó cho bà bầu, tên Hoa Định, vừa để làm quen. Năm nay cô 38 tuổi, người ngoài Bắc, đã làm cho công ty 11 năm. Vừa vác bụng bầu bảy tháng, vừa pha mì, Hoa Định kể: “Bây giờ có thai em còn ăn, ngày trước em nhịn luôn”. Tô mì gói và vài lát dưa leo nghi ngút khói, cô ăn uể oải, hết một nửa thì dừng lại, có lẽ vì ngán. 12 tiếng đứng máy khoan đã vắt kiệt sức của người sắp làm mẹ này, nhưng trong ánh mắt cô, luôn đau đáu một nỗi giày vò “chẳng có ai bên cạnh khi em chuyển dạ…”

bài và ảnh: Vĩnh Hoà

Ngày 23/05/2012, 08:25:29 (GMT+7)

Phóng sự: Tạm bợ đời thợ

Bài 2: Bán sức mua bệnh

SGTT.VN – Một tuần qua, công ty tăng ca cả sáu ngày, ba ngày mười tiếng, ba ngày 12 tiếng, ngày chủ nhật làm tám tiếng. Những bữa ăn cầm hơi, làm cho tiếng dép cuối ngày kéo lê trên mặt đường nặng và dài hơn ban sáng. Phải trải qua 10 – 12 giờ chỉ đứng và đi, mới hiểu vì sao công nhân ở đây chọn cái tư thế ngồi rất xấu, lực dồn về mũi bàn chân, áp ngực và bụng vào đùi, cằm và tay kê đầu gối để giãn cơ và khớp. Nhưng ai cũng mong tăng ca nhiều để có thêm tiền.

Cơn đói vàng mắt

Mới 9 giờ 30 sáng, sau hai tiếng rưỡi làm việc, như bao người khác, mỗi khi rảnh đôi tay, bà Thành lại rờ bụng mình. “Đói chứ sao nữa!”, bà lẩm bẩm. Mà đói thật, cái bụng bắt đầu sôi ọc ọc mỗi khi đi uống nước, chẳng qua lúc bận tay người ta tạm quên đi. Ổ bánh mì hay tô bún lõng bõng buổi sáng giờ đã tiêu đi đâu hết. Lúc này, Tráng móc nửa ổ bánh ăn tiếp, ăn lén vì bị cấm trong giờ làm việc.

Tốc độ làm việc bây giờ chỉ bằng hai phần ba của ban sáng, dù công việc cũng nhẹ nhàng. Các tổ, các chuyền bắt đầu rề rà, bước đi chậm chậm, cái đưa tay chuyền hàng, cái ngoái cổ nghe tiếng gọi cũng chậm. Tiếng bắn vít, tiếng cưa rọc, bào, chà nhám… thưa đi. Lúc này, nơi uống nước và nhà vệ sinh đông người hơn. Trong các tổ, bắt đầu đứng nghỉ vì một thành viên đi vệ sinh hay uống nước. Cầm ca nhỏ trong tay, bà Ba vặn vòi, nhưng khi nước đầy, bà lại đổ đi, hai ba lần mới uống, cách ngửa cổ và tiếng nuốt không phải của kẻ khát. Uống xong, bà treo cái ca cẩn thận và đi chậm như đếm bước trở lại chuyền. “Chậm chậm thôi chú!”, bà Ba luôn miệng nhắc nhở kẻ mới vô. Ở khu vệ sinh, năm cái toalét luôn đóng kín, người ta vô đó ngồi hút hết điếu thuốc khiến nhiều người phải đứng ngoài chờ, chờ lâu nhưng chẳng ai thấy khó chịu. Những lời khuyên rất chân thành và liên tục dành cho kẻ mới vô làm: “Cứ làm tàn tàn!”

10 giờ 30, trong xưởng đã nóng như lò lửa, lúc này cái đói đã không còn giấu hình hài, nó hiện lên xám xịt trên khuôn mặt của hơn trăm con người. “Hôm nay đói ghê! Đói vàng cả mắt!”, Tráng xoa bụng và lắc đầu trước lời mời làm điếu thuốc cho đỡ đói. Con mắt bây giờ, thay vì nhìn xuống bàn lại chỉ nhìn vào người quản lý xem họ đang ở đâu và nhìn vào cái đồng hồ treo ở đầu xưởng. Lời khuyên “chậm chậm” được thay bằng lời đề nghị như đuổi “sao không đi uống nước, toalét, không hút thuốc à, lâu một chút nhé…” Càng đến gần giờ nghỉ, mọi thứ càng rề rà như phim quay chậm, người đi ra khỏi vị trí nhiều hơn người đứng. Chỗ ít bị để ý, không đẩy hàng mới ra làm.

Nuôi bệnh

Tráng kể, căn bệnh viêm mũi, viêm xoang đã đeo vào người mấy năm nay, nhưng những tiếng ho khan suốt đêm, liệu chừng chỉ là viêm xoang hay mũi. Dù mỗi xưởng có đến ba dàn máy hút bụi khổng lồ hoạt động suốt ngày, bụi từ chà nhám, khoét mộng gỗ vẫn bay dày đặc, nhìn giống như sương mù. Ai cũng đeo khẩu trang, nón mũ nhưng lúc nào cũng khụt khịt. Chứng bệnh viêm hô hấp lan rộng, nhưng có lẽ là điều bình thường vì ai làm một thời gian cũng bị.

Cứ đến cuối giờ làm, mọi người tranh thủ đứng xúm xít ở chỗ vòi hơi xịt bụi, những mái tóc, lỗ mũi, quần áo bạc trắng. Vừa hỉ mũi, bà Trang, một công nhân chà nhám, vừa kể: “Chị bị lâu lắm rồi, tối về thở không được. Ban đầu còn uống thuốc, sau này bỏ luôn vì không tác dụng”. Sợ không tin, bà ngửa luôn cái khăn mặt vừa lau mũi ra, một vệt đàm mũi đặc quánh, màu vàng nhạt pha lẫn màu nâu.

Trong các công đoạn sản xuất ra bàn ghế, nguy hiểm nhất là khâu cắt và khoét mộng. Một công nhân ở khâu này tên Danh, ngừng tay, chỉ ba người gần đó và hỏi kẻ tò mò: “Có thấy họ đeo bao và một bàn tay lớn, một bàn tay nhỏ không? Tất cả đều bị máy cưa đứt đó! Hồi tháng trước, có một ông bị, may sao mới cụt ba ngón, còn lại ngón trỏ và cái. Hai người trước bị thương đã lâu, đều cụt hết bốn ngón”. Đấy là tai nạn nặng, còn dập tay (đút vào máy chà nhám) hay dăm gỗ, vít cắm vào người là chuyện thường. Hỏi thêm mới biết các máy cắt, khoan, chà nhám cũng an toàn, nhưng do công nhân làm ẩu, chủ quan nên mới bị tai nạn. Liên tưởng đến những bữa ăn mà năng lượng nạp vào không tương xứng với sức bỏ ra và những cơn đói cuối buổi của người công nhân nơi đây, mới hiểu, chuyện tai nạn rất dễ xảy ra. Đói mờ mắt làm sao tập trung.

Năm phút trước tan ca, đứng lùi lại chút để nhìn rõ hơn cái cổng xưởng, nơi gần một trăm con người đang nhấp nhổm chờ còi, mới thấy rõ cái vẻ tiều tuỵ, kết quả của những tháng ngày đói ăn, khát uống, mất vệ sinh. Đàn ông, thanh niên chỉ dăm ba người cao được 1,7m, hầu hết chỉ 1,6 trở xuống, ai cũng đều gầy gò trơ xương. Phụ nữ, những cô đang tuổi lớn và thời kỳ đẹp nhất của thời con gái ba vòng cứ phẳng lỳ, bà có tuổi bụng chướng to lên, như đang mang thai. Tất cả có một điểm chung là màu da xam xám, dấu hiệu của bệnh hô hấp và những bàn chân gân guốc, to bè vì đứng nhiều.

Ở cùng chuột, gián

Trở về phòng trọ sau một ngày bụi bặm, Tráng nhường kẻ mới vào làm tắm trước. Dưới ánh đèn mờ mờ, cái nhà tắm công cộng rộng 80cm, dài 4m, sâu như cái hang và nồng nặc mùi chất thải. Trên trần mạng nhện giăng kín, tường rêu xanh đen, nền ximăng đã tróc gần hết lấp xấp nước vì nghẹt lỗ thoát, chuột và gián thi nhau sục sạo, giành chỗ. Trong cùng, chiếc bồn cầu nhiều màu đã vỡ, phân và giấy vương vãi. Chiếc vòi cấp nước tắm duy nhất trên đỉnh đầu buộc ai tắm cũng phải gội. Tới lượt, Tráng bước vào, trên tay chỉ có bịch dầu gội giải quyết từ đầu tới chân, cậu ta không dùng xà bông.

Tôi ngồi tại phòng bà bầu Hoa Định tán dóc trong khi chờ Tráng loay hoay nấu bữa cơm tối. Đóng cửa thì ngại, nên cô Hoa Định phân công tôi ngồi luôn ngay cửa ra vào để đuổi lũ chuột hay mò vào phòng, còn gián thì vô phương, thỉnh thoảng, một con lại bay đánh xè vào tường. Cái chỗ nằm của cô và của em bé tương lai chỉ rộng chừng 1,2m, nó vốn là chỗ tắm được cải tạo lại. Muốn vào ngủ, chỉ có thể bò, không khéo đầu sẽ đụng trần.

9 giờ 30 tối, Tráng mắc mùng, tắt đèn và đóng chặt cửa để chống trộm và chuột, gián bò vào. Phòng trọ hơn 8m2 bỗng thành cái hòm. Chỗ đáng ra để nằm lại là nơi dựng chiếc xe máy Tàu cũ kỹ. Góc gần quạt lại để đồ, thành thử hai thằng đàn ông phải nằm sát lại nhau. Đầu đụng đám quần áo treo ở trên, chân thỉnh thoảng chạm vào cái thau hay cái nồi rách. Chiếc quạt chỉ còn trơ cánh quay như xua ruồi. Phòng trọ thành phòng xông hơi dù trên người hai đứa chỉ còn cái quần cụt. Cả đêm hôm ấy Tráng ho, tiếng ho khan như có cái gì đó đang mắc nghẹn trong cần cổ, trong lồng ngực lép kẹp.

bài và ảnh: Vĩnh Hoà

Bài 3: Tình hờ và bà mẹ đơn thân

SGTT.VN – Mới ngày làm việc thứ hai, kẻ mới vô làm đã được bà Thành quan tâm: “Ai lại hai thằng đàn ông ở chung, kỳ lắm. Kiếm cô nào ở chung cho vui. Thiếu gì, chị chỉ cho”. Giọng bà tỉnh rụi, nhóm ráp khung toàn nữ khúc khích cười.

Yêu vội, ăn ở vội

Lúc đầu, khi cô gái phòng bên mang sang cho miếng thịt luộc, Tráng ngượng nghịu giải thích đây là em gái. Mãi đến hôm ngồi trước ca rượu đế sau giờ tan ca, chừng đã ngấm, Tráng mới kể lại cuộc tình của mình, giọng đầy chất chứa. Hơn một năm trước, Tráng quen một cô gái trùng tên một loài hoa ít hơn hai tuổi làm cùng công ty, chính là người cho thịt. Cô gái người ở vùng đồng bằng Bắc bộ, vào đây làm công nhân đến nay được gần năm năm. Cũng chỉ vài tuần kể từ khi quen nhau, cô dọn về ở chung phòng trọ với Tráng. Kể cũng vui và tiện: làm chung, ăn chung và ngủ chung. Nhưng cái niềm vui ấy cũng không kéo dài lắm, được gần một năm, họ chia tay nhau. Cô gái bước ra khỏi căn phòng hơn 8m2 ấy và thuê căn phòng khác sát vách. Chỉ sau khoảng hai tháng từ lúc thôi người cũ, cô có người yêu mới, làm công ty khác và anh chàng mới này dọn về sống chung với cô.

Kể đến đây, Tráng nhìn lên hai bức vách của căn phòng, ở đó vẫn còn mấy tấm hình chân dung người yêu cũ và một tấm hai người chụp chung lúc còn mặn nồng, bên dưới có dòng chữ dán bằng giấy “mãi yêu anh”. Dù miệng luôn thề là không yêu nữa, nhưng tuần nay, anh chàng đang tán tỉnh một cô khác khá xinh làm cùng, tên Nhi, 21 tuổi.

Dãy nhà trọ Hảo ở chừng hai chục phòng, trời cuối ngày mưa tầm tã, mỗi phòng một cặp, cặp thì đang ăn, cặp nằm xem tivi… Là người dân tộc thiểu số ở miền Tây, khuôn mặt cô gái mới 18 tuổi này dễ hấp dẫn người khác giới bởi có chút bí ẩn và đôi mắt hoang dã, cho dù hình vóc chỉ độ bằng cô bé 12 – 13 tuổi phát triển bình thường. Chừng giờ này năm ngoái, Hảo lên đây làm công nhân, và đã có người yêu. Cả hai sống chung được gần năm, nhưng khi hỏi bao giờ cưới – hỏi, cô gái lắc đầu “không biết nữa, chưa tính”. Gần phòng Hảo, hai vợ chồng người cô ruột cũng làm công nhân, ông dượng, ngoài ba đứa con đã lớn và một đứa trong bụng, ông còn có thêm một bà nữa và đứa con trai năm tuổi ở nơi khác.

“Già nhân ngãi, non vợ chồng”

Trở lại với Hoa Định đang mang thai bảy tháng, đến nay đã ngoài 20 năm cô xa quê và gắn bó với đời thợ độc thân. Cho đến chừng bốn năm trước, cô gặp một người bán trái cây dạo, tuy biết người ta đã vợ con đề huề, nhưng cô bất chấp. Hai người về sống chung, tại căn phòng trọ bây giờ. Rồi, nửa năm trước, biết người yêu có thai, ăn ở thêm vài tháng nữa, người đàn ông ra đi, bỏ lại cô với cái thai đang lớn. Không hôn thú, không tài sản chung, không ràng buộc trách nhiệm, không nội ngoại… nên cái vòng dây “góp gạo chung, sẻ chia nỗi cô độc” – sòng phẳng như một hợp đồng – không trói chân được ai. Cô giấu biệt, nhưng tin vẫn cứ lọt về quê, cả họ không chấp nhận một con chiên của Chúa lại mang tội nặng như vậy. Hoa Định mất đường về quê.

Dù làm hay nghỉ, bao giờ trên đầu Diễm An cũng sùm sụp một chiếc mũ rộng vành, cô muốn che đi cái mảng sọ còn khuyết sau cú tai nạn sống – chết và một vết thương tình cũ. 36 tuổi, cô đã ngoài chục năm làm công nhân, trải qua những mối tình và một đứa con gần mười tuổi gửi ở ngoại. Mấy năm trước, Diễm An yêu và sống chung với một cậu choai choai, tuy làm công nhân, nhưng cậu ta còn mê đua xe, tóc nhuộm xanh nhuộm đỏ. Nếu không có cú tai nạn kinh hoàng khi đang ngồi sau tay lái người yêu vào cuối năm ngoái, cũng chẳng rõ, mối tình của họ sẽ đi đến đâu. Chỉ khi tỉnh dậy trong bệnh viện sau gần tháng trời hôn mê, cô mới biết mình còn sống. Những tháng ngày dưỡng bệnh trong nhà trọ, chỉ đơn độc bóng người mẹ già đút cháo, thay băng, cô chợt hiểu, người yêu đã bỏ mình. Tính tình cô đổi hẳn, chẳng mấy khi mở miệng, bước còn chưa vững nhưng cô phải đi làm.

Trong những thân phận ấy, có lẽ Gấm là người may mắn hơn, nếu tính đến bây giờ, dù về phần nhan sắc, cô kém họ. Chưa đầy 30 tuổi, Gấm đã có người thứ hai với cái thai bốn tháng trong bụng, sau khi kết thúc với người thứ nhất và có một đứa con. Một lần, bà Thành buột miệng đùa: “Mày có phước mới kiếm được hai chồng. Chúng có khác nhau không?” Những tưởng Gấm sẽ nổi cáu vì câu hỏi có phần khiếm nhã ấy, nhưng cô cười, đơn giản: “Cháu cũng chẳng biết nữa, chỉ thấy ông sau khoẻ hơn ông trước”.

Đề kháng sự cô độc

Một người quản lý xưởng đếm lại, trong chục năm làm ở đây, ông chỉ đi có hai đám cưới của công nhân. Tất nhiên, số cặp làm vợ chồng đúng nghĩa nhiều hơn hai, nhưng chỉ là phần ít so với những cuộc đời gá tạm vào nhau, trừ những cặp đã thành gia đình, vợ chồng từ ở dưới quê. Một ngày, một tháng, một năm… bước ra khỏi chỗ nằm khi trời còn nhạt nắng, trở về lúc đêm đã xuống, hàng trăm thân phận bị thời gian cuốn đi như thế. Những ngày sống với họ, không hề thấy một bữa ăn tinh thần, dù giản tiện nhất như buổi tối ra uống càphê, đi siêu thị mua cái áo đẹp, rủ nhau đi công viên hóng gió, bước vào khu du lịch… bởi miếng cơm bỏ miệng còn phải tằn tiện. Vậy, cái sự gá tạm có lẽ chỉ là một niềm vui, kháng thể duy nhất, để chống chọi với trăm thứ mỏi mệt đang đè nặng, bao vây kiếp người.

Nhiều người vẫn nhớ hồi ba năm trước, khi cả xưởng hoan hỉ kéo nhau đi 200km để dự đám cưới của một quản lý, nay đã 40 tuổi. Bây giờ, anh bùi ngùi, hai vợ chồng đang làm thủ tục ly hôn. Từ khi cưới nhau, mỗi tháng chồng tranh thủ về thăm vợ hai lần, họ gặp nhau chỉ tính bằng giờ. Rồi, chuyện buồn cũng đến, ở đây, người chồng sống chung với một cô công nhân trong xưởng, ở quê người vợ đâm đơn ra toà, chẳng hiểu có phải vì chồng ngoại tình hay còn lý do gì khác?

Những buổi nghỉ trưa, bà Thành hay rù rì nói chuyện với những người ở lại xưởng, cả chuyện mình lẫn chuyện người. Chồng mất đã chục năm, lên đây làm công nhân ngoài năm năm, nhưng vẫn ở một mình dù bà muốn tìm một người cho đỡ cô độc. “Ở đây, ai cũng có cặp, sống vậy đỡ buồn, chú ạ!”, bà Thành thủ thỉ. Nhìn người phụ nữ 46 tuổi, mẹ của bốn đứa con, mang ngoại hình của người sắp bước vào tuổi 60, thì cái ước muốn “có một ai đó” tuy không quá khó với người khác, nhưng với bà, nó thật xa vời.

Chỉ qua một ngày đứng máy cạnh Diễm An, sau những câu chuyện hỏi thăm sức khoẻ, gia đình, quê quán và ăn chung bữa cơm bụi buổi trưa, Diễm An xin số điện thoại, mời đến phòng chơi vào ngày nghỉ sớm và tối nay cô không tăng ca “vì thấy buồn khi không có anh làm cùng”. Nếu không nhìn thẳng vào mắt cô lúc ấy, đối tượng sẽ ngỡ là những lời trêu ghẹo thường thấy. Cũng ánh mắt ấy, nhưng long lanh nước khi Hoa Định nghĩ tới ngày sẽ phải một mình sinh nở. Cô chẳng dám ước một tấm chồng, chỉ ước có một bờ vai của bất kỳ ai để dựa, trong cái ngày vượt cạn sắp đến.

bài và ảnh: Vĩnh Hoà

Thời cơm không, giá “dẻo”

SGTT.VN – Những tiệm bán cơm không ở đường Nguyễn Thông đang đông khách hơn. Bà Nguyễn Thị Thanh Nga ở số 149 Nguyễn Thông, chủ một trong sáu hàng cơm không của xóm ga Hoà Hưng, cho biết phải làm từ 4 giờ sáng. Buổi sáng bán cơm từ 10g30 – 12g30, chiều từ 5g30 – 7g30. Giá cơm gồm hai mức 7.000 và 8.000 đồng/kg. Nhưng với những người nghèo đã quen mặt, có khi đưa 4.000 đồng, thì cũng được bán đủ ký.

Trần Việt Đức

 
Giá cơm không gồm hai mức 7.000 và 8.000 đồng/kg. Nhưng với những người nghèo đã quen mặt,
có khi đưa 4.000 đồng, cũng được bán cho 1kg.
Cứu cánh của những người bán vé số.
Những túi cơm không đều cho thấy suất ăn của người mua là cho gia đình đông người.
Các quán cơm không gần đây đang mỗi ngày một đông khách hơn.
Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn.
Chấp nhận mua cơm ký về ăn cả nhà, thì thức ăn đã không được tính đến,
ăn với nước mắm cũng coi như là đủ.