BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CHUYỆN CỔ TÍCH HẠT ĐẬU

Posted on 12/06/2012

3



– NGUYÊN ANH-

…đoạn kết truyện của Andersen có nói rằng để “ghi công” đã tìm ra công chúa, hạt đậu trong câu chuyện đó được đưa vào viện bảo tàng hoàng cung. Khách tham quan sau này vẫn có thể thấy nó, nếu chưa ai mang nó đi khỏi viện bảo tàng.

Đăng trên TBKTSG số ra ngày 8/6/2012: Biến đổi khí hậu và chuyện cổ tích công chúa và hạt đậu và The Saigon Times Weekly dated 9 June 2012: Climate change, the Princess and the Pea.

“Happy Ending?”: Đan Mạch chấm dứt 3 dự án tại Việt Nam (27/10/12) / Bàn tròn tài trợ ‘lột xác’ sau 20 năm tồn tại  Sẽ không còn cảnh các nhà tài trợ lần lượt đưa ra các con số ODA cam kết cho Việt Nam như thường lệ

Không liên quan: Cần phân biệt giữa “tiêu cực” và “tham nhũng”

Đất nước Đan Mạch nhỏ nhắn xinh đẹp nổi tiếng với những câu chuyện cổ tích của Andersen làm say mê bao thế hệ độc giả trẻ em, những người sau này cũng trở thành phụ huynh của lớp độc giả tiếp theo. Đối với công cuộc phát triển của Việt Nam, Đan Mạch nổi trội trong hoạt động viện trợ không hoàn lại trong các lĩnh vực thiết yếu như phát triển kinh tế tư nhân, các chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn. Những ngày qua, đối tác phát triển Đan Mạch lại trở nên nổi bật với một vụ việc nghe không mấy dễ chịu – ba dự án viện trợ bị ngừng triển khai ngay lập tức sau quá trình điều tra độc lập[1]. Điều đáng tiếc là các dự án này lại nhằm mục đích hỗ trợ cho một lĩnh vực mới mẻ nhưng nóng hổi – biến đổi khí hậu, vấn đề được coi là sẽ có tầm ảnh hưởng rất lớn tới kinh tế – xã hội của Việt Nam trong vòng vài thập niên tới. Đan Mạch đã thể hiện rõ tính năng động của một nhà tài trợ cỡ trung khi nhanh chóng tìm hiểu để hỗ trợ Việt Nam nghiên cứu tác động và giải pháp đối phó đối với vấn đề này.

Chợt nhớ tới một câu chuyện nổi tiếng cuả Andersen, “Nàng công chúa và Hạt đậu”. Chuyện kể rằng có một chàng hoàng tử muốn kén vợ, mà người đó thì phải là công chúa đích thực. Sau rất nhiều lần thất bại trong tuyển chọn, ngày nọ một ứng viên xuất hiện và nhận rằng mình là nàng công chúa đó. Hoàng hậu, người giúp hoàng tử test thử phẩm chất của công chúa lấy một hạt đậu khô để dưới cùng và xếp 20 tấm đệm lên trên, xen kẽ trên 20 tấm đệm là 20 lượt khăn trải làm bằng lông ngỗng. Sau đó, bà mời công chúa nằm nghỉ trên bộ giường đệm đó. Sáng hôm sau, khi được hỏi có ngủ ngon hay không, cô gái tội nghiệp phàn nàn hầu như cả đêm mình không chợp mắt cho nổi, vì nàng nằm lên vật gì đó rất cứng, đến nỗi toàn thân thâm tím lại. Cảm nhận được hạt đậu bé xíu qua 20 lớp đệm mềm, nàng được công nhận là công chúa đích thực để làm đám cưới với hoàng tử.


Là một trong những nước đứng đầu bảng về mức độ trong sạch trong Xếp hạng Tham nhũng toàn cầu do tổ chức Transparency International thực hiện qua nhiều năm[2], Đan Mạch, cũng như các nước vùng Scandinavia nói chung, là một đối tác phát triển thường tỏ ra nhạy cảm cao độ đối với tham nhũng và các hiện tượng gian lận trong các dự án viện trợ ODA.

Chuyện này xuất phát từ tính cách của người Bắc Âu và bán đảo Scandinavia, vốn đa phần là thẳng thắn như “Những chú lính chì dũng cảm” (tên một câu chuyện nổi tiếng khác của Andersen). Khi tiếp xúc với một sự việc nhạy cảm, có thể gây động chạm tới nhiều bên liên quan, các đối tác này thường ít chọn cách hành xử nể nang hay ngại ngần khi xử lý. Một lý do không kém phần quan trọng nữa là các dự án viện trợ thực chất là sử dụng tiền thuế từ người dân của quốc gia viện trợ. Đan Mạch cũng là một trong những nước đánh thuế thu nhập vào hàng cao nhất thế giới (có nguồn nói xếp thứ ba[3]), với mức thuế lên tới 55,4% với cá nhân và dao động từ 28% tới 42%, đối với doanh nghiệp. Tiền công quỹ, cái gốc của tiền viện trợ, được hình thành từ mức thuế cao đánh vào thu nhập người dân và doanh nghiệp, thành thử không có gì ngạc nhiên nếu các công chức của Đan Mạch phải hết sức cẩn trọng trong việc chi tiêu nguồn tiền này, bao gồm cả việc sử dụng để hỗ trợ cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Khi không sử dụng tiền một cách thích đáng và hiệu quả, các cơ quan hữu trách của Đan Mạch dễ dàng đứng trươc trách nhiệm giải trình với người dân đóng thuế, trực tiếp hoặc gián tiếp qua cơ quan đại diện của họ.

Từ góc độ quốc gia nhận viện trợ như Việt Nam, liệu tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có hiểu được vấn đề trên hay không? Rất khó để khẳng định điều này, khi cho tới nay còn ít những nghiên cứu toàn diện về nhận thức về vấn đề vụ lợi hay tham nhũng trong quản lý lĩnh vực ODA tại Việt Nam. Một cách không chính thức, không ít người nghĩ rằng, tiền viện trợ, nhất là dạng tiền cho (grant) như cách Đan Mạch hỗ trợ Việt Nam, không tạo áp lực trả nợ như tiền vay (loan) từ những tổ chức tài chính đa phương như WB hay ADB. Và vì thế, chi tiêu những ngân khoản này có thể dễ dàng thông thoáng hơn. Có những người nhắc tới các nguồn lực được “cho” như những cơ hội tăng thu nhập, thay vì trăn trở với những món nợ “ân tình” không dễ trả từ các quốc gia viện trợ cho nước mình.

Thêm vào đó, đối với các dự án nghiên cứu, sử dụng “chất xám” là chủ yếu, như ba dự án vừa bị phía Đan Mạch ngưng tài trợ, cũng có một xu hướng nghĩ rằng, các hỗ trợ dạng mềm này rất khó đo đếm, thống kê hiệu quả. Nếu các dự án hạ tầng tạo ra các cây cầu có “cốt tre”, thì các dự án hỗ trợ kỹ thuật, nghiên cứu, cũng từng xảy ra tình trạng phiếu khảo sát “gốc tre”, tức là thay vì đi thực địa thì đoàn khảo sát ngồi gốc tre điền phiếu, rồi tổng hợp kết quả đưa vào báo cáo. Các sản phẩm nghiên cứu dạng này vẫn được tổ chức nghiệm thu và công bố kết quả như bình thường, mà việc kiểm tra lại tính xác thực của thông tin lại còn khó hơn mở cọc bê tông ra xem cốt tre.

Vì thế, sự việc xảy ra đối với ba dự án do Đan Mạch tài trợ có thể coi là một “tai nạn” trong số các dự án được thực hiện một cách thiếu nghiêm túc như trên đây mô tả. Có lẽ vì vậy, mà thay vì thể hiện sự tiếp thu hoặc nghiêm túc kiểm tra lại, các đơn vị thực hiện dự án đều tỏ ra ngỡ ngàng trước kết luận từ phía đối tác viện trợ và lo ngại dự án của mình bị đình trệ, ảnh hưởng tới công việc chung. Tưởng chừng như phần nghi vấn chi sai chiếm 23% tổng ngân sách dự án chỉ ở tầm cỡ “hạt đậu” so với những thành quả của dự án.

Đáng tiếc là, dù có qua 20 lần đệm êm, một “hạt đậu” chi tiêu sai hay có biểu hiện xung đột lợi ích – ví dụ như con cán bộ phụ trách nhận học bổng từ chính chương trình đó chẳng hạn, đều sẽ khiến bên cung cấp viện trợ vào loại nhạy cảm cao như Đan Mạch cảm thấy “ê ẩm”.

Sự việc xảy ra sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với chương trình viện trợ từ Đan Mạch và các nhà tài trợ khác hiện là một điều khó dự đoán, nhất là khi nó xảy ra ngay trước thềm Hội nghị giữa kỳ Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ (CG) diễn ra từ ngày 4/6 đến ngày 6/6. Nhưng nếu người ta đọc lại “Công chúa và Hạt đậu” thì đoạn kết truyện của Andersen có nói rằng để “ghi công” đã tìm ra công chúa, hạt đậu trong câu chuyện đó được đưa vào viện bảo tàng hoàng cung. Khách tham quan sau này vẫn có thể thấy nó, nếu chưa ai mang nó đi khỏi viện bảo tàng.

BẢN TIẾNG ANH: Climate change, the Princess and the Pea

June 11, 2012

By Bao Bao

The local mentality that aid, particularly non-refundable funds, can be used indiscriminately should be changed

These days, the news that Denmark has immediately halted three development aid projects under way in Vietnam following independent inspections has made the headlines. Regrettably, these projects are all relevant to a new yet urgent issue in Vietnam: climate change which is considered to have tremendous influence on the country’s socio-economic development in the coming decades.

The Danish decision is reminiscent of a famous fairly tale by Hans Christian Andersen, The Princess and the Pea. It is a story about a prince wishing to marry a “real” princess who had to be very sensitive. One day, a princess came over and asked for a temporary shelter. The queen, the prince’s mother, decided to test her sensitivity by placing a pea under 20 mattresses and 20 featherbeds on her bed. The next morning, when asked whether she was sound asleep the night before, the princess replied she had endured a sleepless night being kept awake by something hard in the bed. The prince, of course, rejoiced at the answer because only a “real” princess would have such sensitivity. This witty and romantic story has amused generations of Vietnamese people.

One among the top notches regarding transparency in the Corruption Perceptions Index by Transparency International, Denmark, as well as other Scandinavian countries, is extremely sensitive to corruptions and other frauds in official development aid (ODA) projects. In this regard, they have often been uncompromising in dealing with partners in projects funded by them.

Another crucial reason is that aid projects of this sort use money from the donor country’s taxpayers. Denmark is famed for being one of the countries levying the highest tax rates in the world, up to 55.4% for individuals and between 28-42% for corporate institutions. Aid is in fact tax payment. It comes as no surprise when Danish civil servants are very meticulous about how Danish aid is used. When the money is not utilized properly or efficiently, Danish management agencies will have to explain the case to taxpayers directly or indirectly.

Considering the fact that Vietnam is an aid receiving country, are all the individuals and organizations involved in Vietnam fully aware of the Danish way of working? So far, comprehensive research studies on abuse or corruptions in ODA projects remain limited in Vietnam. Many still contend that aid projects, particularly grants similar to the relevant Danish aid projects, exert no pressure the way loans from multilateral financial institutions, such as the World Bank or the Asian Development Bank, do. This mentality has prompted the local aid receiving agencies to think that spending grants is easy. Some have even said grants are chances to increase personal income instead of considering them which help they should be deeply indebted to.

What’s more, for research projects in which grey matter is the kingpin, such as the three temporarily suspended Danish projects, outcome appraisal is hard to quantify. In infrastructure projects, bamboo poles have been found where reinforced steel should have been. Likewise, in research projects, bamboo poles have been found where reinforced steel should have been. Likewise, in research projects, instead of sending out questionnaires and research sheets, some researchers simply sat down and filled in the forms themselves. It is much more difficult to assess the accuracy of research projects carried out this way than finding infrastructural works with bamboo frames inside!

To this effect, the three interrupted Danish projects can be regarded as “accidents” among those executed in the above-mentioned “method”. This thinking perhaps has led to “strange” responses: instead of seriously handling complaints, the aid receivers involved have expressed their surprise and worry that their projects could be adversely affected. It seems to them that the questionable financial part of the projects, accounting for “only” 23% of the total funds, is a “pea” compared with the results these projects are thought to deliver.

It turns out to be, however, that the 40 “mattresses and featherbeds” have failed to cover the tiny “pea” which may be a falsified result or a conflict of interest – for instance, the daughter of a project manager received scholarship from the aid project he is in charge – because the “highly sensitive” Denmark finds it hard to “sleep” on.

What will become of Danish aid programs for Vietnam after these controversies have emerged is hard to predict, particularly when they became public at the threshold of the Consultative Group meeting.

Advertisements