Hãy chu cấp cho nàng vì nàng đẹp

Posted on 06/07/2012

0


chan-dai-va-dai-gia-hay-chon-gia-dung-829226

Khảo cứu hấp dẫn và công phu của Tiến sĩ Trần Vinh Dự: “Điều đó là rất shock vì cứ 100 người phụ nữ trong độ tuổi 18 đến 30 mà chúng ta gặp ngoài đường ở Đông Nam Á thì có thể có tới 6 người hoặc hơn làm việc trong ngành công nghiệp đổi tình lấy tiền”.

…Nói một cách bay bướm thì, hãy tài trợ cho nàng vì nàng đẹp, và có tên tuổi. Nắm bắt được nhu cầu này từ hai phía, ngành công nghiệp giải trí ở Việt Nam đã và đang họat động hết công suất để tạo ra các người đẹp có tên tuổi.

Rất thích hợp đọc bài này nhân sự kiện Đương kim Nghị sỹ Đỗ Văn Đương trả lời phỏng vấn Phụ Nữ Today về vấn đề lập phố đèn đỏ. Nghị sỹ Đỗ Văn Đương nổi tiếng với phát biểu năm ngoái (7-2011) tại kỳ họp QH khóa 13 về rau muống và lạm phát: Trong báo cáo của Chính phủ lo lắng về lạm phát và các đại biểu khác thi nhau chất vấn, thì bỗng đại biểu Đỗ Văn Đương (Tp.HCM) nói – “Không nghĩ lạm phát ở nước ta cao nhất khu vực. Theo tôi phải xem lại chỗ này. Tôi đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 nghìn đồng, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục nghìn. Trong nước tôi đi chợ rau muống ở đô thị có thể 5.000 đồng/mớ, đi xuống vùng nông thôn chỉ 2.000, xuống nữa có khi rẻ hơn”.

Đó là lập luận năm ngoái của Nghị sỹ. Năm nay, lập luận có lẽ sẽ không kém phần nổi tiếng là: “Người bán dâm bình thường đã có lợi ích, có thu nhập và được coi như một nghề vi phạm pháp luật. Nhưng người mua thì không phải là nghề, người ta có thể nhất thời đi và cũng không phải là thường xuyên. Bản thân họ mua dâm đã phải trả một số tiền rất lớn“. Vì thế, Bán dâm là một nghề phi pháp, mua dâm thì không…

Chợt nghĩ tới một ý hình như của Phạm Thị Hoài:

Có lẽ chưa bao giờ trong xã hội Việt Nam sự hấp dẫn giới tính của người phụ nữ được tinh giản thành công về hai bộ phận cơ thể, chân và ngực, như bây giờ…Chân dài trong tiếng Việt ngày nay đồng nghĩa với một người đàn bà có nhan sắc quyến rũ, ban đầu là người mẫu, hoa hậu, sau lan sang diễn viên, ca sĩ, rồi lan rộng ra nữa. Trước kia, hai chàng trai hỏi nhau tối nay đã hẹn với em nào, hay nàng nào chưa. Bây giờ họ hỏi, đã hẹn với chân dài nào chưa. Báo chí thản nhiên chạy các tít với chân dài. Cả một con người, quy về cái bệ đỡ từ hông trở xuốngChân dài dùng để chỉ một con người, theo tôi là một khái niệm kì thị và hạ nhân phẩm.

Và ắt hẳn nên mời Nghị sỹ đọc Lỗ Tấn: Quan niệm về tiết liệt “Dư luận xã hội xưa nay vẫn cho rằng trinh tiết hay không trinh tiết, dâm dục hay không dâm dục là do đàn bà cả. Đàn ông tuy dụ dỗ đàn bà, nhưng lại không chịu trách nhiệm. Thí dụ, anh A dụ dỗ chị B, chị B không bằng lòng, thế là trinh tiết, nếu chết, thế là liệt. Còn anh A thì không mang tiếng xấu và xã hội vẫn trong sạch như thường. Nếu chị B bằng lòng, thế là thất tiết : anh A cũng không mang tiếng xấu, nhưng phong tục đã bị chị B làm cho bại hoại rồi. Chuyện khác cũng như thế. Cho nên trong lịch sử, nguyên nhân mất nước tan nhà tất cả đều đổ cho đàn bà. Đàn bà cứ mơ mơ hồ hồ như thế gánh thay tất cả tội ác đã hơn ba nghìn năm rồi. Người đàn ông đã không chịu trách nhiệm, lại không biết tự xét mình, tất nhiên cứ yên trí mà dụ dỗ”.

Hãy chu cấp cho nàng vì nàng đẹp

Trong một loạt bài trước hồi tháng 10 năm ngoái, tôi đã viết về vấn đề người đẹp và bằng giả (bài “Hãy tha thứ cho nàng vì nàng đẹp”). Tám tháng sau, tức là vào lúc này, tôi lại muốn viết một loạt bài nữa về người đẹp, nhưng không liên quan đến bằng giả mà liên quan đến một thứ gọi là hoạt động kinh tế dựa trên quan hệ thân xác. Nói ngắn lại là về mại dâm – thứ nghề được coi là cổ xưa nhất trên thế giới. Lý do khiến tôi viết về vấn đề này là vì hai lẽ:

Thứ nhất, có một nhánh khá năng động của kinh tế học hiện đại đang nghiên cứu về các vấn đề của xã hội, trong đó có cả các lĩnh vực như việc ăn cắp bản quyền (IP piracy), thị trường các chất gây nghiện (ma túy, trò chơi điện tử…), và dĩ nhiên là cả mại dâm nữa.

Thứ hai, trong vài tháng trở lại đây, câu chuyện về mại dâm, đặc biệt là mại dâm trong giới người mẫu, diễn viên, hoa hậu ở Việt Nam trở thành một chủ đề nóng của báo chí và truyền thông tiếng Việt trong và ngoài nước. Vì sao xã hội Việt Nam bỗng dưng quan tâm đến mại dâm? Không khó hiểu tại sao công chúng ở Việt Nam quan tâm tới chủ đề này. Thu nhập bình quân của giới người mẫu, diễn viên, ca sĩ ở Việt Nam nói chung là thấp, trừ nhóm các nghệ sĩ thuộc nhóm hàng đầu như người mẫu thuộc hàng Vedette hay ca sĩ thuộc nhóm Diva…Trong khi đó, biểu hiện bên ngoài của nhóm này luôn thể hiện cho xã hội thấy họ có thu nhập cao. Thí dụ, thường xuyên sử dụng hàng hiệu cao cấp và luôn thay đổi, đi lại bằng các phương tiện đắt tiền, tiệc tùng ở những nơi sang trọng… Quan sát bề ngoài này dễ dẫn tới một nghịch lý cần giải thích – thu nhập của nhóm người này không đủ, thậm chí rất thấp so với chi tiêu của họ. Điều đó có nghĩa thu nhập của họ phải đến từ một nguồn khác.

Vấn đề là nguồn nào? Công bằng mà nói, những người đẹp này không nhất thiết cần thu nhập cao để có những biểu hiện bề ngoài giống như có thu nhập cao. Việc chụp hình với các bộ đồ đắt tiền có thể đơn giản chỉ là các bộ đồ thời trang do các hãng thời trang cho mượn để quảng bá thương hiệu. Điều này cũng tương tự như việc xuất hiện ở các bữa tiệc lớn với các bộ đồ đắt tiền – có thể, và phần nhiều là, các bộ đồ được các hãng thời trang tài trợ. Việc tiệc tùng ở các nơi sang trọng cũng vậy, những người đẹp này thường không phải là những người phải bỏ tiền ra vì họ luôn được đóng vai trò khách mời. Những người am hiểu về hoạt động nghệ thuật thường có câu “nhìn như vậy mà không phải vậy” – ám chỉ đến việc bề ngoài đắt tiền và thời thượng không có nghĩa là những người đẹp này giàu có. Tuy nhiên, cũng có một số, nếu không muốn nói là tương đối nhiều, những người đẹp hoạt động trong giới nghệ thuật thực sự trở nên giàu có một cách đáng ngạc nhiên trong một thời gian ngắn. Nhiều người mua được nhà đẹp và sở hữu xe hơi đắt tiền mà không phải được thừa hưởng từ gia đình. Đó là cơ sở đủ thuyết phục để công chúng quan tâm đến cái gọi là đổi tình lấy tiền trong giới người đẹp. Chính vì thế mà trong thời gian gần đây, sau khi một số scandals liên quan đến họat động mại dâm của một số người đẹp có tiếng bị phanh phui, người ta có đủ lý do đề thở phào một câu – à hóa ra là thế. Những nghi vấn từ trước tới nay giờ đã được chứng minh! Vì sao kinh tế học quan tâm đến vấn đề mại dâm? Nữ giáo sư Lena Edlund (đại học Columbia) và Evelyn Korn (đại học Eberhard-Karls-Universita¨t Tu¨bingen) là những nhà kinh tế đầu tiên nghiên cứu về mại dâm. Công trình của hai bà “Một lý thuyết về mại dâm” (a Theory of Prostitution) được đăng tải trên tạp chí nghiên cứu kinh tế danh giá nhất của thế giới – Journal of Political Economy – năm 2002. Theo cách giải thích của hai bà: “Mại dâm là một ngành công nghiệp nhiều tỷ USD và là công việc thường xuyên của hàng triệu phụ nữ khắp nơi trên thế giới.

Một khảo cứu gần đây của Văn phòng Lao động Quốc tế cho thấy ở Indonesia, Malaysia, the Philippines, and Thailand, có tới 0.25% đến 1.5% phụ nữ tham gia vào hoạt động mại dâm và nghề này đóng góp từ 2% đến 14% tổng thu nhập nội địa (GDP).” Số liệu mà Edlund và Korn dẫn ra đáng để suy nghĩ. Với 1.5% phụ nữ tham gia hoạt động mãi dâm, và với khoảng 50% phụ nữ trong độ tuổi có thể bán dâm được (từ khoảng 18 tuổi đến 40 tuổi), tỷ lệ này thực sự là 3%. Nếu tính luôn đến thực trạng là phần lớn phụ nữ làm trong ngành công nghiệp này rất trẻ, từ 18 đến 30 tuổi, thì tỷ lệ phụ nữ tham gia mại dâm trong độ tuổi từ 18 đến 30 ở một số nước mà Edlund và Korn dẫn ra vượt xa con số 3% – có thể lên tới 6% hoặc hơn. Điều đó là rất shock vì cứ 100 người phụ nữ trong độ tuổi 18 đến 30 mà chúng ta gặp ngoài đường ở Đông Nam Á thì có thể có tới 6 người hoặc hơn làm việc trong ngành công nghiệp đổi tình lấy tiền.

Con số 14% GDP cũng shock không kém. Ít có ngành công nghiệp nào có vị trí quan trọng như vậy trong tổng thu nhập nội địa. Nó chắc chắn là một trong vài ngành dịch vụ quan trọng nhất của nền kinh tế trong các nước mà Edlund và Korn dẫn ra. Kinh tế học nghiên cứu về tất cả các ngành kinh tế. Và vì thế, một ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và góp phần quan trọng như vậy trong GDP một số nước đương nhiên phải là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học. Theo cách nói của nhà kinh tế học danh tiếng Steven D. Levitt – đồng tác giả của hai cuốn sách Freakonomics – hai cuốn sách thuộc nhóm bán chạy nhất thế giới – trong công trình nghiên cứu mang tên “nghiên cứu định lượng về gái bán dâm đường phố” (An Empirical Analysis of Street-Level Prostitution) thì “không giống như phần lớn các loại tội phạm khác, mại dâm dựa trên thị trường, và vì thế nó thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu kinh tế”. Sự chú ý đặc biệt của các nhà kinh tế, tôi phải nói rõ lại thêm lần nữa, là về mặt trí tuệ. Nó hoàn toàn không có nghĩa các nhà nghiên cứu kinh tế chú ý đặc biệt tới ngành này vì khía cạnh dịch vụ của nó. Nếu vậy kinh tế học nghiên cứu gì về mại dâm?

Kinh tế học quan tâm đến hai khía cạnh của một thị trường – trong trường hợp này là thị trường mại dâm. Thứ nhất là từ góc độ thực nghiệm, kinh tế học tìm cách khảo sát các hiện tượng của thị trường này, phát hiện các nghịch lý, các điểm không dễ giải thích chỉ dựa vào cảm quan, các quy luật và các cách thức vận hành của thị trường mại dâm. Thứ hai, từ góc độ lý thuyết, kinh tế học đưa ra các giả thuyết và dựa trên các giả thuyết này để giải thích bằng các mô hình kinh tế các hiện tượng mà nghiên cứu thực nghiệm đưa ra. Về mặt lý thuyết, trước khi nghiên cứu một hiện tượng, kinh tế học phải định nghĩa được hiện tượng đó là gì. Việc định nghĩa thế nào là mại dâm nhìn bề ngoài có vẻ đơn giản, nhưng thực tế không phải như vậy. Trong từ điển tiếng Anh của Random House, mại dâm được hiểu là “một hành vi liên quan đến làm tình để đổi lấy tiền.” Thế nhưng theo cách nói của Edlund và Korn (2002) thì “một gái mại dâm không thể hiểu đơn thuần là một người phụ nữ bán thân xác mình vì, theo nhiều triết gia trong lịch sử, kể cả nhà Mác-xít luận Ăng Ghen, “việc này được thực hiện hàng ngày bởi những phụ nữ trở thành các bà vợ và vì thế có nhà cửa và một cuộc sống no đủ”.

Cũng theo Edlund và Korn, thời trung cổ có luật sư Johannes Teutonicus cho rằng một người phụ nữ có quan hệ tình dục với ít nhất 23 nghìn người đàn ông thì phải gọi là gái điếm, nhưng nếu một người phụ nữ quan hệ với 40-60 người thì cũng nên gọi như thế. Tuy nhiên, theo Edlund và Korn, phần lớn mọi người đều đồng ý rằng cặp kè hẹn hò nhiều không có nghĩa là một người trở thành gái/trai điếm. Thêm nữa, đưa ra một ngưỡng như 40 hay 23 nghìn sai lầm ở chỗ nó không bao gồm được những người làm mại dâm cao cấp.

Chính vì thế, Edlund và Korn đưa ra một định nghĩa mà theo hai bà là chính xác hơn, đó là: mại dâm là một hình thức bán tình dục không nhằm mục đích sinh đẻ, nhìn từ góc độ người mua dâm, để đổi lấy thu nhập.  Điều đó có nghĩa, từ phía người đi mua quan hệ tình dục, mục đích của họ là vui vẻ, chứ hoàn toàn không có mục đích có con, và họ trả tiền cho sự vui vẻ này. Nó khác với quan hệ tình dục trong gia đình là ít nhiều liên quan tới chuyện duy trì nòi giống. Dựa trên định nghĩa này, Edlund và Korn đặt câu hỏi: tại sao có sự trênh lệch đáng kinh ngạc giữa nghề mại dâm và các ngành nghề khác? Theo rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành khắp nơi trên thế giới, mức thu nhập trung bình của người làm nghề mại dâm cao hơn nhiều so với các ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật và mức độ học vấn cao hơn. Thí dụ trong cuốn sách “Ngành công nghiệp tình dục: Khía cạnh kinh tế và các nền tảng xã hội của mại dâm ở Đông Nam Á” của Jones Gavin chủ biên (1998), các tác giả thống kê được rằng thu nhập trung bình của gái mại dâm ở Indonesia là khoảng từ US$1500 đến US$2500, cao gấp nhiều lần so với thu nhập của công chức và nhân viên văn phòng. Nagaraj và Yahya (1998) thống kê được thu nhập của nghề này ở Malaysia cao gấp 6 lần so với các ngành nghề trình độ thấp khác. Ở các nước phát triển, cũng theo Edlund và Korn, báo chí đưa tin rằng gái mại dâm ở Thụy Điển kiếm được khoảng US$1750 mỗi ngày vào năm 1998, bằng mức thu nhập của một tháng của lao động không có trình độ. Theo báo The Economist (1998), một số phụ nữ làm nghề mại dâm ở khối Ả rập có thể kiếm được US$2000 một đêm. Còn theo một nghiên cứu của Parera (1995), gái mại dâm cấp thấp ở Barcelona (Tây Ban Nha) năm 1995 có thu nhập khoảng US$300 đến US$2000/ngày tùy số lần phục vụ trong khi những cô gái làm việc trong các tiệm saunas kiếm được từ US$1000 đến US$2000 mỗi ngày còn các cô gái gọi thì kiếm được US$1000 cho mỗi lần đi khách. GDP trên đầu người của Tây Ban Nha trong cùng năm là khoảng US$18800, tức là các cô gái bán dâm ở Tây Ban Nha chỉ cần làm việc khoảng 18 ngày là bằng thu nhập cả năm của một người Tây Ban Nha trung bình.

Không dễ để trả lời câu hỏi, hay đúng hơn là nghịch lý, này. Có nhiều cách giải thích, thí dụ do việc mại dâm là phi pháp. Tuy nhiên, hiện tượng thu nhập cao hơn đột biến của nghề này vẫn tồn tại ở rất nhiều nơi mại dâm được pháp luật công nhận là một ngành nghề hợp pháp. Vì thế khoảng cách thu nhập không thể giải thích bằng sự phi pháp của nghề nghiệp. Tính rủi ro của nghề nghiệp này cũng vậy. Nhiều hoạt động mại dâm, đặc biệt của mại dâm cao cấp như các diễn viên phim khiêu dâm, hoặc các người mẫu chụp ảnh khiêu dâm, hoặc gái gọi hạng sang, đều có mức độ rủi ro không cao. Một cách giải thích khác là nghề mại dâm có tuổi nghề ngắn. Nhưng việc này cũng không hợp lý nốt. Vì theo Edlund và Korn, những người hành nghề mại dâm phần nhiều là những người không đầu tư để nâng cao trình độ/kinh nghiệm làm việc ở các nghề nghiệp khác ngay cả nếu họ không làm mại dâm. Do đó, không thể giải thích mức thu nhập cao đột biến của họ như là một thứ bù đắp cho chi phí cơ hội mà họ phải đánh đổi để đi theo con đường mại dâm. Lý thuyết của Edlund và Korn Để trả lời câu hỏi: tại sao có sự trênh lệch đáng kinh ngạc giữa nghề mại dâm và các ngành nghề khác? Edlund và Korn xây dựng một lý thuyết về lựa chọn. Theo hai bà, một người phụ nữ không thể vừa làm mại dâm vừa lập gia đình. Uy tín của họ với tư cách là một gái mại dâm, hoặc đã từng là gái mại dâm, khiến họ ít có khả năng lập gia đình. Vì thế họ phải chọn một trong hai – hoặc là làm mại dâm và ít có khả năng lấy chồng, hoặc là làm các công việc bình thường. Khi lập gia đình, các cặp vợ chồng sẽ có con, và con cái đem lại cho họ giá trị. Một người phụ nữ làm mẹ sẽ có thu nhập bình thường và hưởng giá trị từ việc có con cái, trong khi một người phụ nữ làm mại dâm sẽ chỉ có thu nhập từ mại dâm. Đàn ông hưởng giá trị từ việc có con cái, từ tiêu dùng, và từ tình dục thương mại trong khi phụ nữ chỉ hưởng giá trị từ tiêu dùng và từ con cái (một giả định mà chắc chắn nhiều người cho rằng mang tính thiên lệch về giới).

Từ hệ thống giả định này, không khó để Edlund và Korn chứng minh được thu nhập của gái mại dâm phải cao hơn thu nhập của những người phụ nữ không làm nghề mại dâm. Khoảng cách thu nhập này sẽ giảm dần theo sự chấp thuận của xã hội đối với nghề này – thể hiện ở chỗ những người phụ nữ làm mại dâm hoặc đã từng làm mại dâm có dễ lấy chồng hay không. Ngoài kết luận khá hiển nhiên này, Edlund và Korn còn chứng minh được rằng xã hội sẽ luôn luôn có một số phụ nữ làm nghề mại dâm. Lý do là càng ít người làm nghề này thì do luật cung cầu, thu nhập từ mại dâm sẽ càng cao, và chắc chắn sẽ hấp dẫn với một số người. Edlund và Korn cũng chứng minh được rằng khi mặt bằng thu nhập của những người phụ nữ không làm nghề mại dâm tăng lên thì số người làm nghề mại dâm sẽ giảm, mặc dù không bao giờ biến mất hoàn toàn. Edlund và Korn cũng chứng minh được một số kết quả lý thuyết khác khá thú vị. Thí dụ, với một số giả định tương đối bình thường, thu nhập của đàn ông càng tăng thì mại dâm cũng sẽ ngày càng giảm.

Kết quả này tương đối thống nhất với một thực tế rằng tỷ lệ phụ nữ làm nghề mại dâm ở các nước phát triển nhìn chung thấp hơn ở các nước đang phát triển. Một kết quả khác nữa là ở những xã hội mà tỷ lệ nam – nữ bị lệch theo hướng nhiều nam và ít nữ – thì sẽ có nhiều phụ nữ làm mại dâm hơn. Lý do cũng tương đối dễ hiểu: những người đàn ông không lấy được vợ sẽ không được hưởng giá trị từ con cái, và vì thế sẽ tiêu dùng và mua dâm nhiều hơn. Khi số lượng những người đàn ông này càng nhiều thì giá cả của dịch vụ mại dâm sẽ càng cao và như thế càng thu hút được nhiều phụ nữ tham gia.

Nghiên cứu của Edlund và Korn có vai trò rất quan trọng với tư cách là lần đầu tiên chủ đề này được đăng tải trên một tạp chí đầu ngành của kinh tế học. Tiếp sau nghiên cứu này, có một số công trình khác tiếp tục đưa ra các ý tưởng mới. Một trong các công trình đó là của 3 nữ giáo sư Marina Della Giusta (University of Reading, UK), Maria Laura Di Tommaso (University of Turin, Italy), và Steinar Strom (University of Oslo, Norway) mang tên “Một lý thuyết khác về mại dâm” (Another theory of prostitution)

Nghiên cứu của Edlund và Korn có vai trò rất quan trọng với tư cách là lần đầu tiên chủ đề này được đăng tải trên một tạp chí đầu ngành của kinh tế học. Đương nhiên là lý thuyết này còn quá đơn giản và có nhiều lỗ hổng. Nói như Michael Noer trên báo Forbes thì nghiên cứu này “khiến người ta phải đặt câu hỏi tại sao đàn ông có gia đình rồi lại tìm đến gái mại dâm (thay vì mua sex từ các bà vợ, những người mà theo lý thuyết này thì cung cấp sex với giá rẻ hơn, vì họ rõ ràng là có thể bán tình dục không nhằm mục đích sinh đẻ cho chồng mình và vẫn tiếp tục có gia đình và có con cái như thường)”.

Michael Noer cũng chỉ ra thêm rằng “việc giả định không có “con đường thứ ba” nào khác giữa làm vợ và làm gái mại dâm quả là một giả định có vấn đề, nếu không phải là cực kỳ xúc phạm phụ nữ. Con đường thứ ba, làm việc bình thường nhưng không/chưa lập gia đình, bị loại bỏ vì các tác giả Edlund và Korn giả định rằng mất mát duy nhất mà một phụ nữ phải chịu đựng khi lập gia đình là …không có cơ hội để làm gái mại dâm nữa”.

Michael Noer viết một cách hài hước trong bài báo là “quý vị nhớ nhắc nhở các người bạn nữ giới của mình là họ đã để vuột mất cơ hội gì khi họ đi lập gia đình nhé”.

Tiếp sau nghiên cứu này, có một số công trình khác tiếp tục đưa ra các ý tưởng mới. Một trong các công trình đó là của 3 nữ giáo sư Marina Della Giusta (University of Reading, UK), Maria Laura Di Tommaso (University of Turin, Italy), và Steinar Strøm (University of Oslo, Norway) mang tên “Một lý thuyết khác về mại dâm” (Another theory of prostitution). Lý thuyết ca Guista, Tommaso, và Strøm Công trình của Guista, Tommaso, và Strøm (2004) đưa ra một cách phân tích khác về thị trường mại dâm. Cách tiếp cận của ba bà không nhất thiết hay hơn hoặc khiêu khích hơn cách tiếp cận của Edlund và Korn nhưng nó đưa ra được khá nhiều kết luận gần với những kết quả thống kê hoặc những quan sát thông thường về thị trường này.

Guista, Tommaso, và Strøm phân tích quyết định của khách làng chơi dựa trên các tham số khác nhau như uy tín của khách làng chơi và việc bị tổn thất uy tín khi đi quan hệ với gái mại dâm, giá cả của dịch vụ, mức độ tình dục miễn phí mà họ được thụ hưởng từ các đối tượng khác (như vợ/chồng, bạn trai/bạn gái, và các mối quan hệ khác mà tình dục không dựa trên việc trao đổi vật chất), mức thu nhập của họ, và nhu cầu tiêu dùng các hàng hóa hay dịch vụ phi tình dục. Ba bà cũng phân tích hành vi của người tham gia bán dâm dựa trên các tham số như thu nhập từ những nguồn khác không liên quan đến bán dâm, uy tín và mức độ tổn hại uy tín khi bán dâm, và nhu cầu tiêu dùng các hàng hóa hay dịch vụ phi tình dục.

Dựa trên cách tiếp cận này, Guista, Tommaso, và Strøm chứng minh được một số kết quả khá thú vị. Thí dụ về phía khách mua dâm, càng nhiều tình dục miễn phí thì hoạt động mại dâm càng giảm. Điều này đúng với thực tế ở Mỹ hồi giữa thế kỷ 20 khi thị trường mại dâm đột ngột bị đánh quỵ vĩnh viễn không thể phục hồi lại được. Lý do của sự suy thoái đột ngột này không phải vì nhà chức trách hay bất cứ lý do gì khác, mà là vì cuộc cách mạng tình dục. Cuộc cách mạng này đã khiến những phụ nữ hành nghề mại dâm phải đối mặt với một đối thủ kinh khủng hơn nhà chức trách nhiều lần – đó là những phụ nữ trẻ trung xinh đẹp sẵn sàng cung cấp tình dục miễn phí mà không cần đổi chác gì cả.

Guista, Tommaso, và Strøm cũng chứng minh được rằng chênh lệch trong xã hội càng lớn thì tình trạng mại dâm càng nhiều, và khi các cơ hội kiếm sống ngoài mại dâm càng tốt thì hoạt động mại dâm càng giảm. Kết quả này ít nhiều cũng giống với kết quả của Edlund và Korn và khớp đúng với thực tế là hoạt động mại dâm ở các nước đang phát triển và những nước có bất bình đẳng cao thường có hoạt động mại dâm sôi động hơn.

Tương tự như vậy, các tác giả này cũng chứng minh được rằng về mặt lý thuyết, tổn hại uy tín do việc bán và mua dâm càng lớn thì hoạt động mại dâm càng ít. Ngược lại khi hoạt động mại dâm ít ảnh hưởng tới uy tín của người tham gia thì hoạt động này càng sôi động và giá cả càng rẻ. Đây là một kết luận không có gì đáng ngạc nhiên. Các nghiên cứu của Thorbeke và Pattanaik (2002) và Corso và Trifirò (2003) chỉ ra rằng hiện tượng di chú làm mại dâm tạm thời ở nước khác sau đó quay về quê hương để lập gia đình đang phát triển ngày càng nhiều, đặc biệt là ở Đông Âu và Liên Xô cũ.

Công bằng mà nói, cả hai lý thuyết của Edlund và Korn (2002) và Guista, Tommaso, và Strøm (2004) đều còn khá sơ khai. Phần lớn các kết luận chính mà các tác giả này chứng minh được đến khá giản đơn mà không cần chứng minh nhiều từ cách cấu trúc mô hình và các giả định ban đầu. Thí dụ để giải thích khoảng cách thu nhập giữa người làm mại dâm và người không làm mại dâm, Edlund và Korn giả sử một phụ nữ có thể đi lấy chồng (từ đó vừa được có con vừa có thu nhập) và làm gái (chỉ có thu nhập). Từ giả định này thì không cần phân tích cao siêu cũng ngay lập tức chỉ ra được để một người phụ nữ đi làm nghề mại dâm thì thu nhập của nghề này phải cao hơn là các nghề bình thường vì họ phải từ bỏ những giá trị từ cuộc sống gia đình và con cái.

Trong trường hợp của Guista, Tommaso, và Strøm (2004) cũng vậy, cách các tác giả này mô hình hóa thị trường khiến các kết luận mà họ đưa ra trở nên quá bình thường (trivial). Thí dụ không khó để dẫn tới kết luận nếu sex miễn phí tăng thì hoạt động mại dâm sẽ giảm theo cách mà Guista, Tommaso, và Strøm (2004) mô hình hóa vấn đề.

Còn rất nhiều hiện tượng và vấn đề liên quan đến thị trường này chưa được các nhà kinh tế nghiên cứu đến. Thí dụ cách mà các tham số như nhan sắc, kinh nghiệm, danh tiếng (brand name), cũng như tần suất cung cấp dịch vụ của một người bán dâm ảnh hưởng đến giá cả của dịch vụ mà người đó cung cấp như thế nào. Và nếu có một lý thuyết đưa ra được một quy luật về giá cả như vậy, thì liệu quy luật đó có thể được thực tế xác nhận thông qua các phân tích định lượng dựa trên số liệu thật của thị trường mại dâm hay không? Hay là câu chuyện thiếu thông tin hoặc thông tin bất đối xứng trên thị trường đem lại những trở ngại/rủi ro gì cho các đối tượng tham gia thị trường này, cả về phía cung và cầu? Các đối tượng nào dễ trở thành người cung ứng dịch vụ mại dâm nhất? Các chế tài của nhà nước nên đánh nặng vào phía cung cấp dịch vụ, phía sử dụng dịch vụ, hay phía môi giới dịch vụ, nếu nhà nước muốn giảm bớt các hoạt động này trong xã hội?…

Từ hai công trình trên, đều là của phụ nữ, có vẻ như chỉ có các nhà nghiên cứu kinh tế nữ mới dám liều lăn lộn vào lĩnh vực nhạy cảm này giống như Guista, Tommaso, và Strøm (2004) hay Edlund và Korn (2002). Các nhà kinh tế nam giới có nhiều lý do tế nhị để không tham gia – trong đó chỉ riêng câu chuyện am hiểu quá rõ về thị trường này cũng đã là một vấn đề lớn (nhất là khi các chuyên gia này đang có gia đình).

Thế nhưng mới gần đây thôi lại có một nghiên cứu, lần này là thực nghiệm chứ không phải lý thuyết, từ hai nhà kinh tế tên tuổi là Steven D. Levitt và Sudhir Alladi Venkatesh (2008). Vậy ra, nói một cách hài hước thì, khi nghiên cứu về mại dâm, phụ nữ tập trung vào lý thuyết, còn đàn ông là thực nghiệm.

Trên góc độ thực nghiệm, nghiên cu thú v nht cho đến gi có l là ca Steven D. Levitt và Sudhir Alladi Venkatesh có tựa đề “ nghiên cứu định lượng về gái bán dâm đường phố” (An Empirical Analysis of Street-Level Prostitution). Trong nghiên cứu này, Levitt và Venkatesh đã thực hiện thu thập số liệu về mại dâm đường phố trực tiếp từ việc quan sát các giao dịch diễn ra giữa gái mại dâm và khách hàng, và số liệu từ Sở Cảnh sát Thành phố Chicago.

Nghiên cứu của hai ông đem lại nhiều kết quả rất đáng quan tâm: Thứ nhất, dựa vào số liệu thu thập được từ sở cảnh sát Chicago, hai ông chỉ ra khoảng 50% các vụ bắt bớ của cảnh sát với loại tội phạm này diễn ra trong một diện tích rất bé của thành phố (khoảng 0.33% diện tích thành phố). Vì mại dâm đường phố là một loại tội phạm dựa trên thị trường (có người mua người bán), nên nó khá giống với loại tội phạm liên quan đến chất gây nghiện (cũng dựa trên thị trường) và khác xa với các loại tội phạm không dựa trên thị trường (cướp giật, trộm cắp…) ở chỗ nó tập trung vào một số địa điểm tương đối cố định mặc dù điều đó có nghĩa cảnh sát cũng dễ tìm ra và thực hiện các vụ bắt bớ. Lý do là những người cung cấp dịch vụ mại dâm đường phố cần khách hàng của họ tìm ra mình, vì vậy họ cần tập trung ở một số địa điểm tương đối cố định.

Cũng liên quan đến tính tập trung về không gian của thị trường này, Levitt và Venkatesh còn tìm thấy các mối quan hệ về mặt thống kê rất rõ ràng. Thí dụ ở những khu vực gần các địa điểm sinh hoạt công cộng (bến tàu, nhà ga) hoặc các khu thu nhập thấp thường có tỷ lệ các vụ bắt bớ cao hơn (đồng nghĩa với việc hoạt động mại dâm năng động hơn). Trong tương quan với các loại tội phạm khác, ở những khu người da đen sinh sống thì tỷ lệ các loại tội phạm khác cao hơn trong khi đối với mại dâm thì lại thấp hơn. Tương tự như thế, tỷ lệ các loại tội phạm khác cao hơn trong những khu dân cư mà phụ nữ làm chủ gia đình nhưng hoạt động mại dâm thì lại thấp hơn ở các khu vực này. Thứ hai, về mặt giá cả và thu nhập, Levitt và Venkatesh thu thập số liệu về giá cả của các giao dịch và thống kê rằng thu nhập cho mỗi giờ làm việc của gái mại dâm đường phố ở Chicago năm 2007 là US$27, gấp khoảng 4 lần mức thu nhập theo giờ mà những người phụ nữ này nhận được nếu làm các ngành nghề khác (trung bình khoảng US$7/giờ). Tuy nhiên, để đánh đổi lấy mức thu nhập cao hơn khoảng gấp 04 lần, những người phụ nữ này phải chịu đựng một rủi ro rất lớn về an toàn. Levitt và Venkatesh ước tính rằng trung bình mỗi năm mỗi cô gái làm nghề mại dâm đường phố ở Chicago bị đánh đập khoảng một vài chục lần và phải thực hiện khoảng 300 dịch vụ mại dâm không an toàn.

Số liệu của Levitt và Venkatesh cũng cho thấy nhiều điểm thú vị về giá cả và mặc cả. Giá cả cho dịch vụ này thay đổi rất lớn phụ thuộc vào khách hàng thuộc nhóm sắc tộc nào và loại dịch vụ được cung cấp (xem bảng đính kèm). Khách hàng da đen thường phải trả ít tiền hơn so với người da trắng hoặc người Hispanic. Điểm kỳ dị giữa các nhóm người này là một khách quen người Mỹ đen thì thường được giảm giá đáng kể (khoảng 8%), trong khi một khách quen người Mỹ trắng thì lại phải trả giá cao hơn (hơn 30%) và khách quen người Hispanic cũng vậy (hơn 20%). Giá cả cũng tăng lên nhiều nếu khách hàng muốn quan hệ tình dục không an toàn. Levitt và Venkatesh thống kê được tỷ lệ các lần quan hệ không an toàn trong khảo sát của các ông rất cao, lên tới 75%.

Phát hiện thứ 3, tương đối gây shock, là số người lao động trên thị trường này tăng rất nhanh theo giá cả và thời điểm. Trong kỳ nghỉ Quốc khánh Mỹ, hai ông tính được số lượng giao dịch tăng đột biến tới 60% so với ngày thường và giá cả tăng lên khoảng 30%. Hai ông tính được rằng có rất nhiều phụ nữ bình thường không tham gia hoạt động mại dâm đã tham gia thị trường này để phục vụ nhu cầu tăng lên và hưởng giá dịch vụ cao hơn. Phát hiện tiếp theo là về cách tổ chức thị trường. Trong nghiên cứu của các ông, thành phố Chicago có hai khu vực thị trường ở tương đối gần nhau là Roseland và Pullman nhưng cách thức vận hành thị trường lại khác hẳn. Nếu như ở Roseland, gái mại dâm đường phố tìm khách trực tiếp mà không qua môi giới thì ở Pullman phần lớn các gái mại dâm đường phố lại sử dụng má mì để tìm khách. Điểm độc đáo là ở chỗ gái mại dâm kiếm khách qua dịch vụ môi giới phải làm ít giờ hơn, thu nhập cao hơn, và ít bị bắt bớ hơn so với những người không sử dụng dịch vụ này (xem bảng đính kèm). Chính vì điều này, trong các khảo sát của Levitt và Venkatesh, gái mại dâm thường muốn sử dụng dịch vụ môi giới hơn là hoạt động độc lập, tuy nhiên, số lượng những người làm nghề môi giới này có hạn nên việc tìm được người môi giới đại diện cho họ không dễ.

Phát hiện cuối cùng, tương đối hài hước, là về sự tương tác giữa cảnh sát và gái mại dâm. Levitt và Venkatesh phát hiện ra rằng khác với các loại tội phạm khác, hoạt động mại dâm không giảm đi bao nhiêu ngay cả khi số các vụ bắt bớ tăng lên. Lý do là phần lớn các vụ bắt bớ này không dẫn tới việc giam giữ dài hạn. Trung bình, mỗi gái mại dâm đường phố bị bắt khoảng 1 lần trong một tháng (tương đương khoảng 1 lần bị bắt cho 450 lần cung cấp dịch vụ cho khách hàng), và trong khoảng 10 vụ bắt bớ thì chỉ có 1 vụ dẫn tới án tù. Trung bình nếu bị án tù thì gái mại dâm sẽ phải ngồi tù khoảng 1,2 năm. Đối với các khách làng chơi vì tỷ lệ bị bắt còn ít hơn và hình phạt nặng nhất cho họ là việc bị đăng ảnh lên trang web của Sở Cảnh sát Chicago. Hai ông cũng phát hiện ra rằng có rất nhiều cảnh sát đã đòi được quan hệ tình dục miễn phí với gái mại dâm để đổi chác về việc không bị bắt về đồn. Với những gái mại dâm không sử dụng dịch vụ môi giới, trung bình cứ 100 lần quan hệ với khách hàng thì có 3 lần là quan hệ với cảnh sát để tránh bị bắt.

Đó là câu chuyện về các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong kinh tế học về thị trường mại dâm. Quay lại câu chuyện mại dâm ở Việt Nam, các hiện tượng mà xã hội đang quan tâm có ít nhiều trùng khớp với các nghiên cứu hàn lâm?

25.06.2012

Kimberly Hoàng trở thành một cái tên được nhiều người Việt trong và ngoài nước quan tâm đến trong thời gian gần đây. Luận văn tiến sỹ của cô ở Đại học Berkeley, nghiên cứu về tình trạng mại dâm ở thành phố Hồ Chí Minh, được đánh giá rất cao trong giới nghiên cứu xã hội học. Một phần của luận văn này đã được đăng trên tạp chí Journal of Contemporary Ethnography.

Nghiên cu ca Kimberly Hoàng

Là một nghiên cứu xã hội học chứ không phải là một nghiên cứu kinh tế, công trình của Kimberly Hoàng không phân tích về lý thuyết như của Guista, Tommaso, và Strøm (2004) hay Edlund và Korn (2002) và cũng không thực hiện các điều tra và phân tích về thống kê và kinh tế lượng (econometrics) giống như Levitt và Venkatesh (2008). Công trình của cô mô t một bức tranh về thị trường mại dâm ở thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở nghiên cứu thực tế của cô trong khoảng 07 tháng vào các năm 2006 và 2007. Trong giai đoạn này, Kimberly đã thâm nhập vào hệ thống các nhà hàng, quán bar, quán karaoke để tìm hiểu mà cách thức mà các giao dịch mại dâm diễn ra như thế nào.

Cô phỏng vấn cả những người đi mua dâm và những người đi bán dâm mà cô gặp. Dựa trên các trải nghiệm này, cô chia thị trường mại dâm thành 03 loại:
Loại cp thp là thị trường dành cho khách mua thuộc các đối tượng lao động thu nhập thấp. Đặc trưng của loại này là giá giao dịch rất thấp (khoảng US$3 đến US$4), người bán thuộc độ tuổi 30 – 40 và phần nhiều là những phụ nữ ngoại hình không hấp dẫn, đã từng có gia đình, có con cái, và không có cơ hội tham gia vào các ngành nghề thủ công bình thường. Kimberly cho rằng các quan hệ giữa người mua và người bán thuần túy là quan hệ qua đường và không liên quan đến bất kỳ cung bậc nào về tình cảm.

Loại thứ hai, theo Kimberly, là cấp trung bình được đặc trưng bởi quan hệ với khách tây ba lô. Theo cô những người cung cấp dịch vụ này là loại giữa các cô gái Việt Nam có cơ hội tham gia vào thị trường lao động khác nhưng làm mại dâm để có thu nhập cao hơn và có cơ hội hình thành những mối quan hệ tình cảm và thậm chí hôn nhân với khách hàng nước ngoài.

Loại cuối cùng, Kimberly gọi là cao cp là loại mà những cô gái cung cấp dịch vụ này là các cô gái trẻ, có nhan sắc vượt trội, có trí tuệ và học vấn, thậm chí đang làm việc ở những ngành nghề bình thường có mức thu nhập tương đối cao so với mặt bằng thu nhập của Việt Nam. Khách hàng của các cô là các khách hàng trọn lọc, các Việt kiều và người bản địa giàu có, và sẵn sàng chi những khoản tiền lớn. Quan hệ giữa người bán và người mua cũng vượt xa quan hệ mua bán thông thường và luôn gắn với những quan hệ tình cảm ở mức độ nhất định. Các cô gái tham gia vào thị trường ở phân khúc cao cấp này thường không ngại vấn đề tổn hại uy tín mà Guista, Tommaso, và Strøm (2004) nói đến. Lý do là các cô không phục vụ nhiều khách hàng, và vì thế về mặt xã hội, rất ít người biết đến những việc làm này. Điều đó, theo cách tiếp cận của Edlund và Korn (2002), các cô không bị mất cơ hội lập gia đình.

Nhìn nhận từ góc độ kinh tế học, nghiên cứu của Kimberly mặc dù hết sức thú vị về mặt mô tả hiện tượng xã hội nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Thí dụ việc chia làm 3 loại (hay nhiều loại) tự nó đã không đúng về phương pháp. Nếu nhìn nhận trên góc độ chất lượng của dịch vụ được cung cấp, sẽ không có sự phân loại rời rạc (discrete) như loại A, loại B, hay loại C, mà là một giải liên tục (continous spectrum) từ chất lượng thấp nhất tới chất lượng cao nhất. Vì thế, tất cả các phân tích và mô tả khác về đặc trưng của 3 loại mại dâm của Kimberly dễ rơi vào bẫy cảm quan hoặc những trải nghiệm hạn chế của người nghiên cứu thay vì là một phân tích thực sự mang tính đại diện.

Mi dâm Vit Nam như thế nào?

Gần đây nhất, tháng 2 năm 2012, Chương trình Chung về Bình đẳng giới (do Chính phủ Việt Nam và Liên hiệp Quốc đồng thực hiện) xuất bản một báo cáo đặc biệt thú vị có tựa đề “Mại dâm và Di biến động nhìn từ góc độ giới”. Nghiên cứu này gặp một vấn đề lớn về cách thu thập mẫu (chủ yếu là mại dâm đường phố và các quán bia ôm, karaoke) và chắc chắn không đại diện cho các phân khúc cao cấp. Tuy nhiên, các kết luận mà nghiên cứu này dẫn ra vẫn có nhiều điểm đáng quan tâm đặc biệt: Thứ nhất, về độ tuổi bắt đầu tham gia hoạt động mại dâm, báo cáo này cho rằng có tới 21.6% người làm nghề mại dâm bắt đầu tham gia thị trường này từ tuổi 18 trở xuống. Cần nhớ rằng theo cách tính tuổi của nhiều người Việt Nam thì 18 tuổi đôi khi chỉ là 16 tuổi theo cách tính tuổi của phương Tây. Thí dụ một người sinh vào ngày 1 tháng 12 năm 1995 thì theo cách tính tuổi của phương Tây tại thời điểm tháng 6, 2012 người đó chỉ mới 16 tuổi nhưng theo cách tính tuổi của nhiều người Việt Nam (bao gồm cả tuổi m) thì người đó đã 18 tuổi. Vì thế nhiều khả năng là độ tuổi mà những người tham gia khai trong mẫu điều tra của báo cáo đã bị tăng lên từ 1 tới 2 năm. Theo pháp luật Việt Nam, mua dâm từ những người dưới 18 tuổi (tính theo kiểu phương Tây) bị khép vào tội hình sự. Vì thế, có vẻ như số lượng những trường hợp có thể truy tố hình sự theo báo cáo này là rất lớn nhưng con số bị truy tố thực tế hầu như chỉ có một vài trường hợp mỗi năm.

Thứ hai, độ tuổi trung bình của người bán dâm là rất trẻ, nhiều người có nghề nghiệp khác và trình độ học vấn cao. Có tới 52.7% số người trong mẫu điều tra có độ tuổi từ 25 tuổi trở xuống. Có tới 49.5% số người làm nghề này đồng thời cũng có những công việc bình thường khác trong xã hội và trình độ học vấn trung bình là 17.1% chỉ tốt nghiệp tiểu học, 39.3% đã tốt nghiệp trung học, và khoảng 10.3% đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng.

Thứ ba, về mặt thu nhập, thu nhập trung bình từ hoạt động mại dâm là 8,6 triệu đồng/tháng, cao hơn khoảng 4 lần so với thu nhập trung bình của dân cư đô thị ở Việt Nam (2,13 triệu) – trong đó đối với nữ là 10,6 triệu và nam là 6,55 triệu. Đặc biệt có khoảng 5% số người trả lời có thu nhập từ hoạt động mại dâm là từ 20 triệu trở lên. Kết quả này cũng tương đồng với các kết quả nghiên cứu thực nghiệm khác khắp nơi trên thế giới. Thứ tư, về mặt cấu trúc thị trường, báo cáo này cho thấy chủ yếu người làm mại dâm ở Việt Nam hoạt động một cách độc lập mà không cần dịch vụ môi giới. Tính trung bình, khoảng 66% số người trong mẫu điều tra này có hoạt động độc lập, trong đó tỷ lệ hoạt động độc lập của nam cao hơn của nữ. Báo cáo này không so sánh thu nhập của những người hành nghề độc lập với những người hành nghề thông qua môi giới như trong nghiên cứu của Levitt và Venkatesh (2008).

Nếu kết quả mà Levitt và Venkatesh (2008) tìm thấy ở Chicago cũng giống như ở Việt Nam – tức là mại dâm có môi giới đem lại thu nhập cao hơn cho người bán dâm – thì tại sao lại ít người ở Việt Nam lựa chọn việc bán dâm qua môi giới? Điều này có thể đơn giản vì pháp luật Việt Nam trừng phạt người môi giới rất nặng, trong khi nhẹ tay với người bán dâm và người mua dâm. Trong khi người mua dâm chỉ bị phạt hành chính, người bán dâm cũng chỉ bị phạt hành chính hoặc cùng lắm đi cải tạo một thời gian rất ngắn thì người môi giới phải lĩnh án hình sự và bị tù đày nhiều năm. Thứ năm, về việc truy đuổi và bắt bớ của cảnh sát, báo cáo này cho thấy có tới 70% số người trong mẫu điều tra chưa từng bị cảnh sát làm phiền trong 02 năm liên tiếp gần nhất và chỉ có 6.5% số người trong mẫu bị truy đuổi từ 5 lần trở lên. Nếu so số liệu này với số liệu mà Levitt và Venkatesh (2008) thu thập được ở Chicago thì có thể thấy cảnh sát Việt Nam nhẹ tay hơn nhiều so với cảnh sát Mỹ xét trên góc độ trấn áp tội phạm mại dâm.

Hãy chu cp cho nàng vì nàng đp

Quay lại câu truyện các scandals ở Việt Nam gần đây liên quan đến các người đẹp tên tuổi đổi tình lấy tiền, nếu b khía cnh đo đc qua mt bên thì có lẽ không khó để trả lời lý do tại sao các người đẹp lại đi bán dâm mặc dù họ có thể có những ngành nghề bình thường khác có thu nhập cao và ổn định:

Thứ nhất, họ là những người đẹp nhất, vì thế nếu tham gia vào thị trường này họ là những người được trả cao nhất. Một ngày làm việc của họ có thể đem lại thu nhập bằng hoặc gấp nhiều lần GDP bình quân đầu người của Việt Nam cho một năm (khoảng US$1100).

Thứ hai, vì mức thu nhập của họ cao như vậy, họ không cần phải cung cấp dịch vụ cho nhiều người, vì thế họ hiếm khi chịu bất kỳ loại rủi ro gì, bao gồm cả rủi ro bị cảnh sát bắt giữ, và rủi ro về uy tín. Trong nhiều năm trở lại đây, số vụ liên quan đến những người đẹp này bị phanh phui có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Thứ ba, các cô gái đẹp, để tiếp tục duy trì vẻ đẹp thì cũng cần một nguồn tài chính lớn. Và trong lúc họ còn trẻ, khi chuyện lập gia đình chưa phải là thứ họ phải tính đến, thì động cơ để kiếm được nhiều tiền là một động cơ quan trọng. Việc cặp kè với, hay nói đúng bản chất là việc giao dịch với những người đàn ông giàu có là một việc rất quan trọng. Thế nên, đối với nhiều cô gái đẹp, thì như lời một cô gái đẹp có thương hiệu gần đây phát biểu trên báo chí thì “yêu mà không có tiền thì cạp đất mà ăn à”.

Về phía người mua, luật cung cầu cho thấy người mua phải trả giá càng cao cho các món hàng càng khan hiếm. Đấy là chưa kể yếu tố tâm lý mà Kimberly Hoàng mô tả là “đàn ông quan hệ với những phụ nữ [này] vì họ giúp các chàng khẳng định một đẳng cấp nhất định trước mặt công chúng”.

Giống như một khách mua dâm tên “Tuấn” trong nghiên cứu của Kimberly Hoàng chia sẻ với cô “khi tôi đi với một người phụ nữ trẻ đẹp mà những người đàn ông khác thèm muốn, tôi không ngại phải xài tiền vào những vật dụng đắt tiền cho cô ấy. Cô ấy không phải là một cô gái xấu bẩn hạ cấp và sẽ không mất thời gian của mình. Thêm nữa, khi những người khác nhìn thấy cô ấy có một chiếc điện thoại hay một túi sách đắt tiền thì nó cũng làm cho tôi được đánh giá cao hơn.

Và đó chỉ là một cô gái đẹp, nhưng không tên tuổi trong nghiên cứu của Kimberly.

Vì thế mà, việc được cặp kè với, hoặc đã từng được cặp kè với các người đẹp có tên tuổi đối với nhiều người đàn ông giàu có là một việc quan trọng. Nó giúp họ có được những giá trị về mặt đẳng cấp mà họ không có được bằng những cách khác. Vì thế, nói một cách bay bướm thì, hãy tài tr cho nàng vì nàng đp, và có tên tui.

Nắm bắt được nhu cầu này từ hai phía, ngành công nghiệp giải trí ở Việt Nam đã và đang họat động hết công suất để tạo ra các người đẹp có tên tuổi. Có lẽ không ở đâu có nhiều cuộc thi người đẹp, hoa hậu, hoa khôi, người mẫu, siêu mẫu nhiều như ở Việt Nam. Bộ máy này đã liên tục tạo giúp các cô gái xây dựng được thương hiệu và tên tuổi cho mình. Và đến lượt nó, nhiều trong số các tên tuổi này lại hoạt động hết công suất để đáp ứng nhu cầu khẳng định đẳng cấp của nhiều chàng trai (cả già và trẻ) lắm tiền nhiều của.