Ba hai hai hay là Bai bai, ha?

Posted on 16/07/2012

0


TSy

– Bảo Bảo –

Bài đăng trên TBKTSG số 25 – 2012 (tiêu đề “Tạm biệt 322”): http://www.thesaigontimes.vn/epaper2010/TB-KTSG/753/#/6/zoomed (Page 60)

…với lý do hạn chế chỉ tiêu và điều kiện tuyển dụng cán bộ”, người ta buộc phải chấp nhận nghe câu tạm biệt “Bai Bai, Ha!” vang lên.

…Việt Nam đã bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đòi hỏi cạnh tranh bằng năng suất, sáng tạo và khả năng quản trị điều hành với một nguồn nhân lực tiên tiến.

Bài liên quan:

Cuối năm 2011,ngay sau đợt tổng kết chương trình đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (gọi tắt là Đề án 322 – “Ba Hai Hai”), đồng thanh trên báo chí là các ý kiến quan ngại về đầu ra của các sản phẩm từ đề án này, không phải ở các công trình khoa học, mà về tính bền vững về công việc của các nhà khoa cử của“Ba Hai Hai” sau ngày vinh quy bái tổ. Một vấn đề gây tranh cãi là nếu đã nhận được sự đào tạo đầy ưu đãi từ ngân sách nhà nước, bản chất là tiền thuế, kèm theo đó là sự tạm dừng về thời gian phục vụ, các công chức thuộc diện thụ hưởng “Ba Hai Hai” liệu có xác quyết quá trình cống hiến của mình cho khu vực đã nuôi dưỡng tài năng của mình không? Ngược lại, phía cơ quan nhà nước, nơi khởi xướng ra đề án, đã nghĩ tới việc thiết kế các lợi ích “hậu Ba Hai Hai” hay chưa, ví dụ như đảm bảo thu nhập cuộc sống, một môi trường làm việc kích thích sáng tạo, cống hiến và các phương tiện phục vụ công việc, đặc biệt là trong các ngành khoa học.

Vào thời điểm tổng kết đề án, được biết đã có 2.500 tỉ đồng được cung cấp trong vòng mười năm, trung bình mỗi năm chi 228,5 tỉ đồng, và nhờ đó hơn 7000 người được đi học ở nướcngoài, trong đó tiến sĩ là 3.838 người, thạc sĩ 2.042 người. Nhiều lưu học sinh đã được đào tạo và trở về đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, điều gây trăn trở cho rất nhiều người là ở chỗ, kể từ khi “Ba Hai Hai” ra đời cho tới thời điểm tổng kết, việc sử dụng và khai thác nguồn nhân lực quý báu hình thành từ đề án dường như vẫn chưa được lưu tâm và có giải pháp thực sự hiệu quả. Trên thực tế, cũng từ nguyên nhân “số lưu học sinh  đi học trở về nước rất ít được các cơ quan nhà nước tuyển dụng với lý do hạn chế chỉ tiêu và điều kiện tuyển dụng cán bộ”, người ta buộc phải chấp nhận nghe câu tạm biệt “Bai Bai, Ha!” vang lên. Tình trạng này xảy ra không chỉ từ Đề án “Ba Hai Hai” mà ngay cả đối với những đối tượng thụ hưởng các chương trình học bổng dạng viện trợ của nước ngoài.

Dù còn những quan ngại nhất định, nhân ngày tổng kết 10 năm, “Ba Hai Hai” vẫn được đề xuất kéo dài tới năm 2020. Song chỉ 5 tháng sau đó, các thí sinh tương lai của đề án này nhận được một “lời đề nghị nhã nhặn” – họ được mời chuyển sang chương trình học bổng khác, chọn trường khác, thậm chí là nước khác, vì “Ba Hai Hai” sẽ không còn kinh phí để thực hiện.

Với mức giải ngân trung bình khoảng 228 tỷ đồng mỗi năm, ngân sách dành cho “Ba Hai Hai” không phải quá lớn, so với những khoản chi đầu tư vào các tập đoàn kinh tế hay chi cho các dự án cơ sở hạ tầng.

Thực chất, các khoản đầu tư phát triển “phần cứng” đối với chi từ ngân sách nhà nước hay đối với các khoản tiền viện trợ nước ngoài dành cho Việt Nam, thường sẽ dễ tạo ra những kết quả “hữu hình” hơn những khoản đầu tư “phần mềm”.

Luôn luôn có một mối quan ngại về hiệu quả khó đo đếm (cụ thể) được của học bổng, các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật hay tăng cường năng lực thông qua nghiên cứu, tập huấn đào tạo, sử dụng chuyên gia.v.v. Đối với “những người nộp thuế” ở bất kỳ quốc gia nào, hình dung được kết quả của công tác đào tạo ra 500 tiến sỹ, tổ chức 50 hội thảo hay tài trợ cho 5 nghiên cứu xây dựng pháp luật sẽ tác động cụ thể như thế nào tới đời sống kinh tế – xã hội hẳn là một việc không dễ dàng.

Trong khi đó, mường tượng ra kết quả của các dự án hạ tầng không khó: ví dụ như 1 chiếc cầu được bắc qua sông, 10 km đường dẫn được trải nhựa, 100 trạm y tế được xây cất. Hiệu quả của các công trình này rất có thể cũng không dễ đo đếm, như thi thoảng công chúng lại được nghe về một ngôi chợ xây mất vài chục tỷ bị bỏ hoang, hay một chiếc cầu đầu tư BOT xong rồi được đề nghị trả lại. Song rõ ràng, các kết quả từ đầu tư phần cứng thì hiển hiện, còn các kết quả từ đầu tư “phần mềm” thì đòi hỏi phải đánh giá và nhìn nhận trừu tượng hơn rất nhiều.

Và vì vậy, dường như các dự án “phần cứng” thường nhận được sự ưu ái nhiều hơn so với các đề án “phần mềm”, mặc dù nhiều chuyên gia đã phân tích rằng, Việt Nam đã bắt đầu bước sang một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đòi hỏi cạnh tranh bằng năng suất, sáng tạo và khả năng quản trị điều hành với một nguồn nhân lực tiên tiến.

Tư duy thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo kiểu cũ cũng thể hiện ở những khoản đầu tư công vào các công trình chào mừng sự kiện hoặc mang tính kỷ niệm, như các bảo tàng, các tượng đài rải rác tại các tỉnh thành trong cả nước.

Một sự việc mà khá nhiều người còn nhớ, khi được hỏi về khả năng tăng lương cho khối cán bộ công chức trong năm 2012, theo Bộ Tài chính, khó khăn lớn nhất là tìm được nguồn để bù đắp cho số 11.000 tỷ đồng tăng thêm cho đợt tăng lương này. Cách đó không lâu, Bảo tàng Hà Nội đã hoàn thành với ngân sách 2700 tỷ đồng, tức là ¼ số tiền gặp khó khi trả lương tăng thêm cho công chức. Và công trình này vẫn cần thêm khoảng 700 tỷ đồng để hoàn thiện phần “ruột” – các hiện vật bên trong. Có lẽ Bảo tàng Hà Nội không phải là ví dụ duy nhất để người ta liên tưởng tới một vấn đề – nên ưu tiên cho các dự án khổng lồ, hay là cho thu nhập căn bản để đảm bảo cuộc sống cho đại bộ phận nhân lực quản lý nhà nước.

Nhưng có lẽ điều đang gây bàn cãi nhiều nhất hiện nay chính là quá trình đầu tư và quản lý số tiền đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước. Tất nhiên, mục đích được trông đợi là hướng các doanh nghiệp này trở thành những đầu tàu về kinh tế trong những ngành trọng điểm. Song sự thiếu vắng nguồn nhân lực quản trị hiện đại, sự đổi mới công nghệ cùng một cơ chế minh bạch về trách nhiệm giải trình đã khiến hiệu quả của khối doanh nghiệp này trở nên một trong những mối quan ngại lớn nhất mà nền kinh tế phải giải quyết trong giai đoạn 2011-2015.

Điển hình mới nhất của vấn đề nêu trên là sự việc vừa xảy ra tại Vinalines, nơi mà nguyên số lỗ luỹ kế của 3 năm đã tròm trèm tổng số tiền chi cho Ba Hai Hai trong 10 năm.

Chừng nào các dự án phần cứng còn tốn kém như vậy, các dự án phát triển nguồn nhân lực hay tăng cường năng lực, bồi dưỡng trình độ cán bộ sẽ khó có cơ hội tăng thêm. Dù rằng ai cũng biết, các hỗ trợ phần mềm là cần thiết để đáp ứng đòi hỏi của một nền kinh tế tăng trưởng cạnh tranh và bền vững hơn.

Vị cựu chủ tịch Vinalines, một trong những tác giả của các khoản lỗ nghìn tỷ đã biến mất, với điểm đến được dư luận hồi hộp dự đoán là một quốc gia phương Tây nào đó, nơi dễ dàng làm lại từ đầu nếu hành trang tiền bạc dư dả[1]. Trong khi đó, những ứng viên của chương trình 322 năm 2012 thì vẫn còn ngồi đây, chờ đợi sự sắp xếp của Bộ Giáo dục để có thể nói với người thân và bạn bè câu chào tạm biệt quen thuộc của những bậc đàn anh đi trước: “Bai bai, ha!”.

[1] http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Ong-Duong-Chi-Dung-da-bo-tron-sang-nuoc-ngoai/168875.gd