Tính chính trị của giải Nobel văn chương

Posted on 16/10/2012

0


090303135440_machienhuu

“Hầu hết các tác giả lớn của thế kỷ 20 đều không được trao giải.”
Thứ nhất, có phải bao giờ Viện Hàn Lâm Thụy Điển cũng chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn văn chương hay không? Thứ hai, nếu chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn văn chương, có phải bao giờ họ cũng đánh giá chính xác hay không?”

“Ngay những năm đầu tiên của giải Nobel, hầu như ai cũng thấy người xứng đáng nhất là Leon Tolstoy; tuy nhiên, ban giám khảo đã bác bỏ đề nghị ấy với lý do Tolstoy có “tư tưởng thù nghịch một cách hẹp hòi đối với mọi biểu hiện của văn minh”. Họ cũng không trao giải cho Hardy với lý do ông có thái độ quá bi quan đối với cuộc sống; không trao giải cho Ibsen, người bị cho là chống lại các giá trị của giai cấp trưởng giả. Graham Greence bị từ chối vì quá gần gũi với các nhà độc tài như Fidel Castro và Omar Torrijos. Malraux bị từ chối từ quá khuynh tả.

Lie^n quan:
Quan chức quê Mạc Ngôn bị nghi hối lộ giám khảo Nobel
Mạc Ngôn giải tỏa ‘mặc cảm Nobel’ cho Trung Quốc (VTC 13-10-12) — P/v Phạm
Xuân Nguyên — Mạc Ngôn nợ Việt Nam một lời xin lỗi (VHNA 13-10-12)

Vạn Lý Trường Thành hay nỗi sợ mang tên “Phương Bắc”

Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc
15.10.2012

Trước sự phản đối của một số người về quyết định trao giải Nobel văn chương cho Mạc Ngôn với lý do ông quá gần gũi với chính quyền, cơ hồ là phát ngôn viên của một chế độ độc tài và tàn bạo, Per Wastberg, một thành viên trong Viện Hàn Lâm Thụy Điển phát biểu trên trang mạng của tờ nhật báo Svenska Dagbladet là Viện không quan tâm đến quan điểm chính trị của các nhà văn:

“Tất cả các lựa chọn – vốn dựa trên chất lượng văn chương chứ không phải bất cứ điều gì khác – bao giờ cũng gây ra những tranh cãi nhất định.”

Trên nguyên tắc, tôi đồng ý hai điểm: Thứ nhất, văn chương không nhất thiết gắn liền với chính trị; và thứ hai, việc đánh giá văn chương phải độc lập với chính trị.

Tuy nhiên, trên thực tế, lời phát biểu của Per Wastberg lại làm nảy sinh ra hai vấn đề: Thứ nhất, có phải bao giờ Viện Hàn Lâm Thụy Điển cũng chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn văn chương hay không? Thứ hai, nếu chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn văn chương, có phải bao giờ họ cũng đánh giá chính xác hay không?


Xin nói về vấn đề thứ hai trước.

Trong bài “Tính chính trị văn chương của giải Nobel” đăng trên tạp chí The Antioch Review số 65 ra vào mùa xuân năm 2007, Jeffrey Meyers nhận định: trái ngược với sự kỳ vọng của nhiều người, ngay cả khi chỉ dựa trên tiêu chí văn chương, giải Nobel không phải lúc nào trao đúng người.

Meyers còn nói thêm: “Hầu hết các tác giả lớn của thế kỷ 20 đều không được trao giải.” (trang 214) Các tác giả lớn không được giải ấy, bao gồm, trước hết, những tên tuổi vĩ đại nhất của thế kỷ 19, những người còn sống và còn sáng tác đến đầu thế kỷ 20, như Leon Tolstoy, Anton Chekhov, George Meredith, Thomas Hardy hay Emile Zola. Trong thế kỷ 20 thì có ít nhất năm, sáu chục tài năng thuộc loại đứng đầu thế giới, nổi bật nhất là: Joseph Conrad, James Joyce, Virginia Woolf, D.H. Lawrence, George Orwell, W.H. Auden, Robert Frost, Wallace Stevens, Ezra Pound, Marcel Proust, Paul Valery, Andre Malraux, Anna Akhmatova, Vladimir Nabokov, Jorge Luis Borges, Rainer Maria Rilke, Franz Kafka, Stefan Zweig, v.v. Tất cả những người ấy đều không được giải.

Phân tích danh sách 103 người đoạt giải Nobel văn chương từ năm 1901 đến 2006, Meyers nhận thấy họ có thể được xếp thành bốn hạng:

Thứ nhất là những người có tầm vóc quốc tế. Thuộc hạng này, chỉ có 17 người, bao gồm: Kipling, Yeats, Shaw, Mann, O’Neill, Gide, Eliot, Faulkner, Hemingway, Camus, Sartre, Beckett, Solzhenitsyn, Montale, Bellow, Heaney và Naipaul.

Thứ hai là những cây bút quan trọng và nghiêm túc: Thuộc hạng này, có 26 người, bao gồm: F. Mistral, Carducci, Maeterlinck, Hauptmann, Hamsun, Brunin, Pirandello, Hesse, Russell, Lagerkvist, Mauriac, Churchill, Pasternak, Quasimodo, Saint-John Perse, Andric, Saferis, Neruda, Singer, Marquez, Brodsky, Paz, Grass, Coetzee, Pinter và Pamuk.

Thứ ba là những nhà văn hạng trung bình (third-rank) gồm 44 người.

Và thứ tư là những nhà văn tầm thường, đến bây giờ gần như hoàn toàn bị quên lãng, bao gồm 16 người.

Theo Meyers, chỉ có những người thuộc hai hạng trên cùng là xứng đáng. Nhưng như vậy thì chỉ có 43 người trên tổng số 103, tức là chưa tới một nửa.

Meyers không đưa danh sách những cây bút được xếp vào hạng thứ ba và thứ tư ở trên. Ông chỉ nhắc, đây đó, rải rác trog bài viết, một số tên như Jacinto Benavente, Galsworthy, Odysseus Elytis, William Golding, Seifert, v.v. Ở những nơi khác, nhiều nhà phê bình đã nhắc đến hiện tượng những nhà văn tầm thường mà vẫn được giải. Trong số đó, được bàn cãi và phê phán nhiều nhất là giải thưởng vào các năm: 1974 cho Elvyind Johnson và Harry Martinson, hai người Thụy Điển; 1997 cho Dario Fo, người Ý, người bị nhiều nhà phê bình chê là kém nhất trong số những người từng đoạt được giải Nobel; 2004 cho Elfriede Jelenik, người Áo (sau giải ấy một thành viên của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, Knut Ahnlud, từ chức để phản đối sự chọn lựa của ban giám khảo); và 2009 cho Herta Muller, người Romania.

Liên quan đến vấn đề thứ nhất nêu lên ở đầu bài này, từ lâu đã có nhiều người nhận thấy và chứng minh không phải lúc nào Viện Hàn Lâm Thụy Điển cũng chỉ căn cứ trên tiêu chí thuần túy văn chương. Ngược lại, rất nhiều khi trong các sự lựa chọn của họ thấp thoáng rất nhiều yếu tố chính trị.

Trước hết, tính chính trị ấy liên quan đến vấn đề ngôn ngữ. Cho đến năm 2012 này, đã có 109 người đoạt giải. Chia theo ngôn ngữ, chúng ta thấy:

Ngôn ngữ Số người đoạt giải
Tiếng Anh 26
Tiếng Pháp 13
Tiếng Đức 13
Tiếng Tây Ban Nha 11
Tiếng Thụy Điển 7
Tiếng Ý 6
Tiếng Nga 5
Tiếng Ba Lan 4
Tiếng Na Uy 3
Tiếng Đan Mạch 3
Tiếng Hy Lạp 2
Tiếng Nhật 2
Tiếng Tàu 2
Tiếng Ả Rập 1
Tiếng Bengali 1
Tiếng Séc (Czech) 1
Tiếng Phần Lan 1
Tiếng Hebrew 1
Tiếng Hungary 1
Tiếng Icelandic 1
Tiếng Occitan 1
Tiếng Bồ Đào Nha 1
Tiếng Serbo-Croatian 1
Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ 1
Tiếng Yiddish 1

Sự phân chia ở trên có tính chất tương đối. Người đoạt giải Nobel với tiếng Bengali chính là Rabindramath Tagore (năm 1913) sáng tác bằng cả hai thứ tiếng: Bengali và tiếng Anh, được người ta biết đến chủ yếu qua các bản tiếng Anh. Joseph Brodsky (năm 1987) được xếp vào bảng tiếng Nga nhưng ông viết bằng cả tiếng Nga lẫn tiếng Anh và cũng được biết đến qua các bản tiếng Anh. Samuel Beckett (1969) viết cả bằng tiếng Pháp và tiếng Anh và cả hai đều có tầm quan trọng cũng như được đánh giá cao gần như ngang nhau.

Nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta thấy ưu tiên thuộc hẳn về các ngôn ngữ Âu châu, đứng đầu là tiếng Anh. Có thể nói, những người viết hoặc được dịch ra tiếng Anh có cơ hội đoạt giải Nobel nhiều hơn hẳn những người khác. Nếu không viết và dịch sang tiếng Anh thì viết và dịch ra tiếng Thụy Điển. Nhiều người cho Ban giám khảo đặc biệt ưu ái đối với đồng hương của họ cũng như những người viết các ngôn ngữ gần gũi với tiếng nước họ, như hai thứ tiếng Na Uy và Đan Mạch (tổng cộng ba thứ tiếng này có đến 13 người đoạt giải, bằng tiếng Pháp và tiếng Đức, nhiều hơn tiếng Tây Ban Nha).

Khía cạnh thứ hai của tính chính trị trong giải Nobel là phái tính. Trong số 109 người đoạt giải, chỉ có 12 người là phụ nữ: Selma Lagerlof (2009), Grazia Deledda (1926), Sigrid Undset (1928), Pearl Buck (1938), Gabriela Mistral (1945), Nelly Sachs (1966), Nadine Gordimer (1991), Toni Morrison (1993), Wislawa Szymborska (1996), Elfriede Jelinek (2004), Doris Lessing (2007) và Herta Muller (2009).

Khía cạnh thứ ba là cơ chế lựa chọn. Nói chung, do số người và thời gian có giới hạn, ban giám khảo thường chỉ đọc kỹ những người được giới thiệu. Trên nguyên tắc, các Viện hàn lâm, các đại học, các hội văn nghệ và những người đã từng đoạt giải Nobel đều được quyền đề cử người vào tranh giải Nobel. Tuy nhiên, người ta thường chỉ quan tâm đến nơi người ta tin cậy nhất. Đó thường là các viện hàn lâm của Thụy Điển, Pháp và Tây Ban Nha. Các giáo sư và đại học Mỹ, ngược lại, rất hiếm khi tận dụng cơ hội và cái quyền để giới thiệu của mình. (Có lẽ họ ít quan tâm đến giải thưởng này; nhưng cũng có thể họ quá tự tin vào ngôn ngữ của họ, vốn đã được xem như một thứ quốc tế ngữ.) Tiếng nói của những người đã đoạt giải Nobel cũng có ảnnh hưởng rất đáng kể. Meyers cho Mann đã giúp Hermann Hesse, Martin du Gard giúp André Gide, Dag Hammarskjold giúp Saint-John Perse, Alexander Solzhenitsyn giúp Heinrich Boll, Saul Bellow giúp Isaac Singer, Brodsky giúp Dereck Walcott, Czeslaw Milosz giúp Wislawa Szymborska (tr. 218).

Nhưng quan trọng nhất là khía cạnh thứ tư: quan điểm chính trị. Ngay những năm đầu tiên của giải Nobel, hầu như ai cũng thấy người xứng đáng nhất là Leon Tolstoy; tuy nhiên, ban giám khảo đã bác bỏ đề nghị ấy với lý do Tolstoy có “tư tưởng thù nghịch một cách hẹp hòi đối với mọi biểu hiện của văn minh”. Họ cũng không trao giải cho Hardy với lý do ông có thái độ quá bi quan đối với cuộc sống; không trao giải cho Ibsen, người bị cho là chống lại các giá trị của giai cấp trưởng giả. Graham Greence bị từ chối vì quá gần gũi với các nhà độc tài như Fidel Castro và Omar Torrijos. Malraux bị từ chối từ quá khuynh tả. (tr. 216, 219 & 220)

Nhiều lúc thời điểm trao giải trùng hợp với các biến cố chính trị khiến người ta nghi ngờ động cơ thực sự của việc chọn lựa. Ví dụ, nhà văn Phần Lan Frans Eemil Silanpaa được trao giải vào năm 1939, lúc nước ông bị Liên Xô tấn công. Nhà văn Mỹ Saul Bellow đoạt giải đúng năm Mỹ kỷ niệm 200 năm ngày lập quốc. (tr. 219)

Và năm nay Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc đoạt giải cũng đúng với thời điểm thế giới đang bàn đến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc với tư cách một siêu cường quốc.

(*) NABB Café: Meyers, theo góc nhìn cá nhân, có lẽ đánh giá không cao vị trí của các thi sỹ đoạt giải Nobel.

Nữ thi sỹ Ba lan gốc Do Thái Wislawa Szymborska là một ví dụ, bà được xếp trong nhóm 3rd-rank. Nhóm chiếu nhất cũng chỉ có 3 nhà thơ: Kipling, Yeats, Heaney. Kipling thì không hoàn toàn là một nhà thơ.

Wislawa Szymborska từng có một diễn văn khó quên trong lễ trao giải Nobel 1996, đoạn sau đây có thể phản chiếu phần nào cách nhìn về tầm ảnh hưởng của các tác giả thi ca, so với các tác giả văn xuôi.

“…người ta vẫn liên tục làm nhiều phim về cuộc đời của các nhà khoa học và các nghệ sỹ vĩ đại, ước vọng là tạo dựng một cách xác thực quá trình sáng tạo dẫn tới những phát minh khoa học quan trọng hay những tác phẩm nghệ thuật lừng danh nhất…
…Tồi tệ hơn cả là các nhà thơ. Công việc của họ không ăn ảnh một cách tuyệt vọng. Một người ngồi trên bàn hoặc nằm trên đi-văng, mắt dán vào tường hoặc trần nhà, thi thoảng viết dăm bảy dòng rồi sau mười lăm phút lại gạch xoá đi và hàng giờ trôi qua chẳng viết được gì…Liệu khán giả có chịu được cảnh ấy không?”


Đừng say bằng rượu rẻ tiền

Tháng 10 17, 2012

Murakami Haruki

Phạm Nguyên Trường dịch

Sách của Mạc Ngôn chắc chắn bán chạy hơn ở Nhật sau khi ông giành Giải Nobel Văn chương năm nay. Nhưng nếu một ứng viên sáng giá khác, nhà văn Nhật Murakami Haruki, trúng giải, điều tương tự sẽ không xảy ra tại Trung Quốc. Trong bối cảnh của vụ xung đột Trung – Nhật liên quan đến chủ quyền tại Quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) và Takeshima (Độc Đảo), người Trung Quốc rầm rộ biểu tình chống Nhật, nói “Không” với hàng Nhật và tẩy chay cả văn hóa, nghệ thuật Nhật. Phim Hồng Kông rút khỏi một Liên hoan phim Quốc tế tại Tokyo. Sách của Murakami bị loại khỏi các nhà sách ở Đại lục. Ông Lâm Thiểu Hoa (林少华), người đã dịch 33 tác phẩm của Murakami sang tiếng Trung và góp phần không nhỏ làm nên danh tiếng của nhà văn này tại Trung Quốc, tuyên bố trên trang Vi Bác (Weibo) của mình rằng ông ủng hộ việc đình chỉ lưu hành tác phẩm của nhà văn Nhật, và tuy điều đó ảnh hưởng đến sở thích văn học của cá nhân ông, nhưng lợi ích dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Chủ nghĩa dân tộc, mẫu số chung của những người Trung Quốc khác nhau nhất, dường như là một đại lượng tinh thần tuyệt đối không cần bàn cãi.

Đối lại với không khí cuồng nộ đó, 1300 văn nghệ sĩ và trí thức Nhật Bản, trong đó có văn hào Ōe Kenzaburo, Giải Nobel Văn chương 1994, đã lên tiếng kêu gọi cả hai bên tự kiềm chế. Trong bài tiểu luận đăng trên tờ Asahi Shimbun ngày 28-9-2012, nhà văn Murakami Haruki đã trực tiếp phát biểu về chủ đề gay cấn này.

Xung đột biển đảo Việt – Trung nằm trong một bối cảnh khác xung đột Trung – Nhật, không những về lịch sử mà trước hết về những ràng buộc chính trị hiện tại. Nhưng quan điểm và thái độ của Murakami rất đáng cho những người Việt quan tâm suy ngẫm.

Phạm Thị Hoài

_____________

Giữa thời điểm những cuộc biểu tình liên quan đến xung đột ở Quần đảo Senkaku (Điếu Ngư) đang diễn ra một cách dữ dội và căng thẳng thì tin tức về việc các tác phẩm Nhật Bản đang bị loại khỏi các nhà sách Trung Quốc làm người viết bài này cảm thấy sửng sốt. Tuy nhiên, hiện nay còn chưa rõ hành động này là một phần của chính sách cấm vận do chính phủ Trung Quốc đưa ra hay do các nhà sách tự ý tiến hành. Vì thế tạm thời tôi sẽ không đưa ra ý kiến của mình về vấn đề này.

Tôi tin rằng trong tất cả những sự phát triển của châu Á trong những năm gần đây thì sự hình thành và trưởng thành của cái được biết đến như là “nền văn hóa châu Á” cho đến nay là thành tựu vĩ đại nhất. Không nghi ngờ gì rằng chất xúc tác cho quá trình trưởng thành đó chính là sự phát triển đột phá và mạnh mẽ của những nước như Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan. Và cùng với sự ổn định kinh tế, sự trưởng thành và đơm hoa kết trái của quá trình sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật, bên cạnh việc thiết lập những tiêu chuẩn được kì vọng là tối hảo, để mỗi nước có thể tự do trao đổi những sáng tạo văn hóa có một không hai của mình ra khắp thế giới.

Trung thành với những giá trị và luật lệ được mọi người chia sẻ, hiện nay chúng ta có thể hoạt động mà không ăn cắp bản quyền đến mức làm người ta phải kinh ngạc như đã từng xảy ra trước đây (hay ít nhất cũng đã giảm được ảnh hưởng của nó!). Khái niệm trả bản quyền và “ứng trước” cho công việc sáng tạo đã được mọi người ở châu Á công nhận, và ở nước nào chúng ta cũng có thể tự do trao đổi theo lối tiền-hàng một cách hợp pháp và công bằng.

Từ kinh nghiệm của tôi trong lĩnh vực này mà nói, đấy là một đoạn đường dài và phải mất khá nhiều thời gian chúng ta mới đến được vị trí như ngày nay. “Thị trường Đông Á”, như chúng ta gọi hiện nay, đã trải qua giai đoạn thụ thai, thai nghén và trưởng thành khá dài. Không muốn đổ thêm dầu vào lửa (có nguy cơ gây thêm khó chịu, trong khi căng thẳng đã quá cao rồi!) tôi sẽ tránh nhắc tới những ví dụ quá cụ thể, nhưng cái thị trường mà chúng ta, những người Đông Á, đang cùng nhau sống trong đó, là một thực thể hoàn toàn khác so với hai mươi năm trước đây và đã được cải thiện khá nhiều. Nó đã ổn định hơn rất nhiều. Vẫn còn một số vấn đề nhỏ, nhưng hầu như mọi người đều có thể xem, đọc hầu hết các bộ phim, tác phẩm văn học, nhạc và chương trình truyền hình một cách tự do và hợp pháp.

Đấy đúng là một thành tựu tuyệt vời mà chúng ta đã đạt được cho chính mình.

Xin lấy mức độ phổ biến không thể tin nổi của các chương trình truyền hình Hàn Quốc làm ví dụ, thông qua phương tiện thông tin đại chúng này, người dân Nhật Bản càng ngày càng trở nên quen thuộc với dân tộc lân bang và thái độ đối với đất nước đó cũng thay đổi rất nhiều; nói ngắn, Hàn Quốc không còn quá xa lạ như trước đây nữa. Hơn thế nữa, nhờ tình cảm thân mật mới hình thành với đất nước này mà trong thời gian gần đây số người Nhật học tiếng Hàn cũng gia tăng vùn vụt. Trong khi đó, người Hàn Quốc cũng quen dần với cách suy nghĩ của chúng ta và hiện nay họ cũng có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều hình thức của văn hóa và phương tiện truyền thông Nhật Bản hơn là trước đây.

Trong thời gian làm việc ở một trường đại học Mĩ, tôi được gặp nhiều sinh viên Trung Quốc và Hàn Quốc, nhiều người trong số họ nói rằng đã làm quen với tác phẩm của tôi. Những thanh niên này thường đến văn phòng của tôi, và nhờ những trải nghiệm mà chúng tôi cùng chia sẻ trong lĩnh vực văn học, chưa lần nào chúng tôi phải đánh nhau để thảo luận. Bất chấp những đường biên giới quốc gia và rào cản ngôn ngữ, vẫn có tình bằng hữu và sự tin cậy.

Việc thiết lập được môi trường văn hóa tự do giao lưu như thế ở châu Á là kết quả của nhiều năm hay công sức của biết bao nhiêu người, trong đó có tôi, những người đã dành hết trái tim và khối óc của mình cho công việc sáng tạo. Mặc dù có nhiều việc chưa thể làm, tôi vẫn kiên trì. Sau khi đã có những thành quả như thế – tạo ra môi trường, trong đó văn hóa và tư tưởng có thể được trao đổi một cách tự do – cùng với sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, tôi tin rằng những vấn đề xảy ra gần đây giữa các nước chúng ta sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng.

Muốn chia sẻ và cảm nhận văn hóa của nhau, đầu tiên và quan trọng nhất là chúng ta phải công nhận sự kiện là tất cả chúng ta đều là con người.
Và dù nói bằng ngôn ngữ nào đi nữa, tất cả chúng ta đều trải nghiệm và được thúc đẩy bởi cùng những tình cảm như nhau. Những tình cảm đó là cái tạo ra và định hình chính chúng ta. Mục tiêu của chúng ta – thông qua trao đổi văn hóa – là thúc đẩy khái niệm này. Việc trao đổi giữa những nền văn hóa của chúng ta cũng giống như gửi tâm hồn của chúng ta qua biên giới và biển cả để người dân các quốc gia khác có thể trải nghiệm và tìm hiểu văn hóa của chúng ta, cũng như chúng ta có thể tìm hiểu văn hóa của họ vậy.

Là một người Nhật, đồng thời cũng là một nhà văn, tôi sợ rằng những tranh cãi gần đây về quần đảo Điếu Ngư và thậm chí những rắc rối liên quan tới Quần đảo Takeshima (Độc Đảo), sẽ phá hủy cái thế giới văn hóa mà tất cả chúng ta phải vất vả bao nhiêu năm trời mới tạo dựng được, và sẽ đào tung cái con đường mà chúng ta đã xây dần dần, bằng từng viên gạch một.

Đáng tiếc là, trong khi cái gọi là biên giới quốc gia vẫn còn tồn tại, những vấn đề và những cuộc tranh chấp về lãnh thổ và quyền sở hữu có lẽ là không thể tránh khỏi. Đấy là những vấn đề thực tế mà chúng ta phải đối mặt. Những vấn đề đó đòi hỏi và phải được giải quyết bằng những giải pháp thực tế và không bao giờ được nghĩ khác. Khi những vấn đề như thế xuất hiện, bản chất của vấn đề rất dễ bị bỏ qua và niềm tự hào dân tộc thường bị dính líu vào. Những vết thương cũ dễ bị moi ra và tình cảm bị tổn thương, nhưng nếu những luận cứ như thế được đưa ra thì chúng ta sẽ thấy mình đã lạc vào khu vực nguy hiểm, không dễ tìm được đường ra.

Những tranh cãi được bơm bằng nộ khí kiểu này có khác gì say bằng những loại rượu rẻ tiền – chúng ta sẽ bị ngộ độc rất nhanh, giọng của chúng ta sẽ to lên, còn ngôn ngữ thì khó nghe hơn. Hành vi của chúng ta có thể trở thành bạo lực, còn tư duy của chúng ta, mặc dù thường là bình tĩnh và đầy lí trí, trở thành đơn giản và chỉ còn dựa vào bản năng thấp hèn mà thôi. Chúng ta bắt đầu tập trung vào những tình cảm và ước muốn thầm kín nhất, lặp đi lặp lại chính mình và không còn chỗ cho tư duy logic nữa.

Nhưng khi những vụ nổi loạn chấm dứt và tiếng hò hét lặng đi thì còn lại với chúng ta chỉ là cơn liệt rượu hoành hành.

Chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ mình, không để các chính khách kích động. Chúng ta cũng phải cảnh giác như thế khi gặp những anh chàng cứ muốn chuốc cho chúng ta những loại rượu rẻ tiền, những kẻ luôn mồm hò hét và khuyến khích chúng ta làm những việc như họ, chúng ta phải giữ vững lí trí và không để người khác kích động. Trong suốt những chiến dịch trong những năm 1930, trong khi tranh luận về kết quả cuối cùng, Adolf Hitler, mang theo thông điệp rằng cơ sở hành động của đảng của ông ta là giành lại những vùng lãnh thổ đã mất trong Thế chiến I và trở lại với địa vị vinh quang, xứng đáng trước kia. Và tất cả chúng ta đã biết kết cục của chuyện đó như thế nào… Cuộc tranh cãi hiện nay về Quần đảo Senkaku phải được tiến hành một cách bình tĩnh và bằng một cái đầu sáng suốt, chúng ta phải xem xét một cách thận trọng mình đã rơi vào tình huống này như thế nào, vì sao mà chúng ta đã để cho tình hình trở thành không kiểm soát được như thế.

Các viên chức chính phủ và những nhà bình luận chính trị rất có tài trong việc đưa ra những bài diễn văn có tính chất xúi giục và cảm động, những lời bình luận đánh trúng vào tình cảm của nhân dân, nhưng trên thực tế, họ không bao giờ phải chịu rủi ro. Chính chúng ta, chính nhân dân mới là những người phải đi vào những nơi có xung đột và cuối cùng là phải chịu đau khổ.

Trong cuốn tiểu thuyết Biên niên kí chim vặn dây cót của tôi, tôi đã dựa vào những sự kiện có thật trong thời kì Nhật chiếm đóng Mãn Châu trong Thế chiến II. Những trận đánh ở đây, dù tương đối ngắn nhưng rất tàn bạo, đã làm chết hơn 20 ngàn người Nhật, người Nga và người Mông Cổ. Tất cả chỉ vì biên giới và lãnh thổ.

Sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết, tôi đã đến những khu vực xảy ra chiến trận để tự mình nhìn thấy vùng đất đó. Đứng giữa hoang mạc cằn cỗi và rộng lớn đó, nơi vẫn còn vương vãi vỏ đạn, thùng đựng đạn dược và đồ dùng của binh sĩ, tôi cảm thấy mình thật là yếu đuối. Một ý nghĩ cứ trở đi trở lại trong tâm trí tôi: “Vì sao lại có nhiều người đến cái vùng đất hoang vu, chẳng có gì như thế này và giết nhau một cách vô tâm đến như thế?”

Như tôi đã nói ngay từ đầu bài viết, tôi không định bình luận về việc sách Nhật bị loại khỏi các nhà sách ở Trung Quốc. Đấy là vấn đề mà người Trung Quốc phải tự giải quyết, và sẽ là như vậy cho đến khi mọi chuyện kết thúc. Nhưng là một nhà văn, dĩ nhiên là tôi cảm thấy rất buồn, nhưng tôi chẳng thể làm được gì. Điều tôi có thể nói là tôi xin mỗi người trong các bạn hãy tự kiềm chế, và đừng tham gia vào bất kì hành động trả đũa nào. Ngay khi chúng ta trả đũa hay chuẩn bị có hành động như thế là chúng ta tự làm hại chính mình. Khi chúng ta hành động một cách vội vã là chúng ta gây ra vấn đề cho chính mình và chính chúng ta sẽ phải giải quyết hậu quả.

Nhưng nếu chúng ta tỏ ra kiềm chế và thể hiện một cách điềm tĩnh rằng chúng ta đánh giá cao, chúng ta tôn trọng và tiếp tục yêu mến những gì chúng ta đã đạt được sau nhiều năm lao động cần cù thì chắc chắn là cuối cùng chúng ta sẽ được tưởng thưởng. Điều này, thưa các quý bà và quý ông, là hoàn toàn trái ngược với say bằng loại rượu rẻ tiền.

Say xỉn vẫn xảy ra. Nhưng chúng ta không được ngăn chặn việc trao đổi tâm hồn, tức là giao lưu văn hóa. Chúng ta không được phá hủy những con đường mà biết bao người đã bỏ nhiều công sức mới xây dựng được. Từ nay trở đi, dù có bị thương tổn đến mức nào, chúng ta cũng phải tìm cách giữ lấy con đường này và tiếp tục để cho nó mãi phong quang.

Nguồn: Dịch theo bản tiếng Anh của Philip Kendall
http://en.rocketnews24.com/2012/10/02/world-famous-author-haruki-murakamis-passionate-essay-on-the-dispute-over-the-senkaku-islands/

Posted in: VĂN NGHỆ