Tiền ơi, xin chào mi…

Posted on 01/01/2013

0


leaf_background_2013

Chào 2013, không phải là chào “Tiền”. Nhưng trước một năm thiên hạ “khan” tiền như 2013, thì bài viết của TS.   (January 17, 2012) trở nên đáng đọc lại.

“Đối với tôi, giá trị lớn nhất của đồng tiền là nó mua sự tự do cho mình”

“Kinh Thánh cũng khẳng định là “ người giàu vào thiên đường khó hơn con lạc đà đi lọt qua mũi kim””.

“Tuy nhiên, tôi khám phá rất nhanh một điều: tất cả những gì hay những người tôi yêu thương đều “cần” và “yêu” tiền”.

Bài liên quan:

(Tuanvietnam) – Tôi lớn lên trong một gia đình trung bình, không nhiều tiền bạc, nhưng có một tuổi thơ tương đối êm đềm dịu ngọt. Sàigòn những thập niên 50’s, 60’s trong các khu phố quanh vườn Tao Đàn là những chuỗi ngày của bướm hoa và chim chóc. Rồi 3 năm trên những đối thông vắng lạnh quanh Yersin Đà Lạt cũng là những hồi ức của nô đùa, khám phá đầy tiếng cười. Bạn bè chúng tôi chỉ có một món đồ chơi duy nhất là quả bóng cao su trúng được từ một giải thưởng ở trường. Tất cả đồ chơi còn lại đều do tài sáng tạo của chúng tôi bằng các vật dụng lượm lặt quanh nhà. Tôi hoa mắt khi dẫn con nhỏ lần đầu vào Toys”R”Us để hắn chọn quà.

Tư duy về tiền bạc

Bước vào đại học, tôi say mê với những văn phẩm nghệ thuật mang mầu sắc đấu tranh xã hội và hiện sinh từ Kafka, Camus, Kierkegaard ..Tôi có một thái độ rất thịnh hành ngày đó là coi thường những doanh gia (gọi là trọc phú) và tiền bạc (như thầy giảng, không có đồng tiền nào mà không dính đến tội ác). Rồi Kinh Thánh cũng khẳng định là “ người giàu vào thiên đường khó hơn con lạc đà đi lọt qua mũi kim”. Có thể nói là tôi không ưa tiền, nếu không phải là thù ghét.

Tuy nhiên, tôi khám phá rất nhanh một điều: tất cả những gì hay những người tôi yêu thương đều “cần” và “yêu” tiền.

Một lần tôi bày tỏ hăng say với một cô bạn gái,” có những thứ mà đồng tiền không mua được”. Cô cười,” vậy là anh không biết shop (mua sắm)”. Tôi cũng cảm nhận là sau những lần thất bại trên thương trường, tôi vẫn được thỏai mái hơn khi còn chút tiền. Thật đúng như cô đào Zsa Zsa Gabor nói, “ Khóc đâu cũng là khóc, nhưng tôi thích khóc trong chiếc xe Rolls Royce”.

Quyến rũ của tiền bạc

Tôi bắt đầu đi vào một thái cực khác, có lẽ là “dark side” (phần đen) như truyện Star War. Tôi bắt đầu say đắm người vợ (tiền) mà mình đã không biết yêu khi cưới. Tôi yêu tiền như một đứa bé lần đầu bước vào tiệm kẹo. Trong các lớp tâm lý sơ đẳng, sách vở dạy rằng con người bị chi phối và thúc đẩy bởi bốn động lực chính: quyền lực, danh vọng, tiền bạc và “hóc môn” (hormones). Hóc môn là ăn, nhậu, sex và thuốc. Mỗi người một kiểu, người thích món này hơn món khác, người thích vài món, những anh chị mê cả bốn món thường vào tù rất sớm. Tôi thì chỉ thích tiền.

Suốt thời trung niên, từ năm 30 tuổi đến gần đây, tôi thấy đồng tiền là tất cả. Nó cho tôi những tác phẩm tuyệt vời như chiếc xe Lamborghini vàng tôi mua tặng mình năm sinh nhật 33 tuổi; như chiếc đồng hồ Oris Artelier vợ tôi mua cho hai đứa (his and her) trong một phút ngẫu hứng tại Monte Carlo; như chiếc du thuyền Feretti tôi chia sở hữu (share ownership) với 3 người bạn khác ở Miami; như cái condo nhỏ bé dễ thương cạnh bờ biển Puerto Viejo của Costa Rica; như những bộ viết máy mang các tên huyền thọai như Mont Blanc, Cartier, Montegrappa, Visconti…tôi dã tốn công sưu tập suốt 25 năm.

Đồng tiền cũng cho tôi những trải nghiệm khó quên như chuyến du hành lạ lùng vào Tây Tạng huyền bí vào năm 1979 (rất ít người được phép thăm); như chuyến leo núi ở  Cerro Castor phía nam Argentina đầy mạo hiểm (súyt bị môt trận bão tuyết chôn vùi); như lần đi dã ngọai safari ở Kenya nóng bức với một người tình Rawandan đen hơn than đá.

Tôi quên mất những mặt trái của đồng tiền để chỉ còn say đắm với lợi ích. Tôi cho rằng ba lợi ích lớn nhất của đồng tiền nhìn từ góc cạnh trí thức là tự do, thì giờ và nhân tính.

Những người thực sự giàu ít khi phải làm những gì họ không muốn. Họ cũng không bị buộc phải sống ở một nơi nào, với những người họ không thích hay chịu đựng những áp đặt ngược đời. Họ cũng có nhiều thì giờ hơn để chăm chú vào trọng điểm công việc vì đã có nhiều nhân viên phụ làm các việc lặt vặt. Nhờ vậy, họ có thời gian để thưởng thức văn hóa nghệ thuật nhiều hơn. Nhờ đồng tiền, những người giàu có thường rộng luợng quyên tặng cho những nạn nhân kém may mắn của xã hội. Họ cũng không bị những mặc cảm thua kém chi phối, nên nhân cách họ thường cởi mở và dễ thích hợp.

Giới hạn của tiền bạc

Nhưng thực tế thường phức tạp và nhiều thách thức hơn lý thuyết. Tôi tin rằng có rất nhiều người giàu đạt được những tự do, thì giờ và nhân cách do đồng tiền mang lại. Warren Buffett và Bill Gates là hai thí dụ điển hình. Tuy vậy, phần lớn những người giàu tôi quen biết, cũng như chính cái “tôi” đáng ghét lúc xưa, phải loay hoay trong cái bẫy của nghịch lý.

Trước hết, hành xử hàng ngày cùa chúng tôi bị giới hạn vào trách nhiệm phải có với cổ đông, với nhân viên, với khách hàng, với quyền lợi và thương hiệu của doanh nghiệp, và với cả cộng đồng chung quanh. Chúng tôi không thể nói hay làm những gì có thể gây hại đến những đối tác này. Bản thân chúng tôi cũng không có quyền bị bệnh nữa. Tuy không như Steve Jobs đã làm cổ phiếu Apple giảm 8% khi tin ông bị ung thư loan truyền, tôi và ban quản lý cũng phải dấu chuyện tôi phải mổ tim (heart attack) vào năm 1999 để tránh ảnh hưởng xấu trên cổ phiếu của công ty Hartcourt bé xíu.

Chúng tôi cũng bận rộn khủng khiếp khi giàu có. Với những báo cáo, tin tức, Emails và điện thọai thường xuyên, chúng tôi may mắn lắm mới có thì giờ nhàn rỗi để đọc hết một cuốn sách trên 500 trang. Những tiệc tùng lễ hội liên tiếp không cho chúng tôi thời gian để thư giãn với gia đình bạn bè. Bao nhiêu liên hệ thân tình sâu xa đã bị sự giàu có chia cắt.

Rồi đến những họat động xã hội thiện nguyện. Dù rộng lượng, nhiều người trong chúng tôi cũng không muốn danh nghĩa hay tiền bạc bị lạm dụng cho những mục tiêu đen tối. Hơn nữa, khi mở lòng giúp với vài trăm dollars nghe thật dễ dàng; vấn đề trở nên phức tạp khi số tiền lên đến cả triệu dollar. Bộ phận kế tóan, thuế vụ, pháp lý và PR phải nhẩy vào để khán duyệt và chỉ dẫn.

Những phúc lộc không tiền

Tôi vẫn yêu tiền. Dù nó mang đến hạnh phúc hay đau khổ, đồng tiền vẫn là người vợ, người tình và người bạn tuyệt vời. Nhưng tôi cũng không bao giờ quên những phúc lộc không cần có tiền, không cần mua hay thâu tóm. Chẳng hạn cuốn truyện The Catcher On The Rye và Dr. Zhivago tôi tình cờ đọc lại sau 40 năm, vào một buổi chiều đi lạc vào thư viện ở New Delhi. Tiếng cười trong trẻo của đứa con trai ở phòng cạnh bên khi hắn thì thầm với bạn gái qua điện thọai về chuyến đi chơi của hai cha con ở New York. Khuôn mặt rực rỡ của một người con gái tóc vàng trong một buổi sáng mùa thu qua công viên Luxembourg nhìn lá vàng.

Tôi hiểu lời của Sartre rằng, “Chúng ta nô lệ cho những gì mình sở hữu” (We are possessed by what we possess). Và tôi vẫn xin được nói với tiền như một bài nhạc tình nào đó của Trịnh Công Sơn, “Dù đến rồi đi, tôi cũng xin tạ ơn người, tạ ơn đời, tạ ơn ai…đã cho tôi còn những ngày ngồi mơ ước.. .”

Dr. Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa

 

Các tỷ phú trong trí nhớ

January 16, 2012 By

Sau khi thành công rực rỡ ở thập niên 60’s, 70’s và đầu 80’s, các đòn bẫy tài chánh bị suy thoái kinh tế đập ngược và James phải trắng tay. Nhưng tôi chưa bao giờ gặp một người lỡ vận, thua cuộc mà vẫn yêu đời vui vẻ như vậy. Câu nói ấn tượng nhất của James là, “tôi có thể bị phá sản, nhưng tôi không bao giờ nghèo.”

Những cuộc phỏng vấn các đại gia Việt Nam cho thấy nhiều người có một mộng ước rất bình thường: làm tỷ phú đô la. Theo bảng ước tính của tạp chí Forbes, chỉ có tất cả 1,080 tỷ phú đô la trên thế giới. Do đó, nếu được ghi danh vào bảng phong thần này, thì các đại gia Việt đã có thể tự nhủ là…đã thỏa mãn tự ái dân nhược tiểu và hoài bão của vợ con, gia đình mình.  Nhiều người Việt đã hãnh diện nhận đủ thứ giải thưởng ở nước nhà, nhưng dường như chưa ông bà nào lên được bảng vàng của Forbes hay Fortune.

Tôi cũng không có phúc lộc của tổ tiên để làm tỷ phú. Thời cực thịnh của sự nghiệp, tôi làm chủ 32% của công ty Hartcourt, cho tôi một tài sản trên giấy tờ khoảng 220 triệu đô la. Sau đó là một sự xuống dốc khá thê thảm. Nhưng tôi vẫn cho đó là một may mắn. Vì chỉ 220 triệu đã biến thái tôi thành một quái nhân cao ngạo tự kiêu, ăn chơi hoang đàng, vung tay quá trán…thì 1 tỷ đô la đã có thể chôn tôi dưới mộ sâu.

Nhưng qua 42 năm làm ăn, các giao tiếp với những tỷ phú thực của thế giới cũng đã đem lại cho tôi nhiều trải nghiệm quý giá, từ hoan hỉ đến thất vọng. Tôi ghi lại đây như một món quà Tết, vì ông bà ta tin là ngày xuân phải nói chuyện “phúc-lộc-thọ” để lấy hên.

Một tâm hồn bạc tỷ

Trước hết là những hồi niệm về một người bạn thân, một tấm gương sống mà tôi luôn ngưỡng mộ. Tôi quen James DeRosa khoảng 1988, khi sự nghiệp của tôi bắt đầu đi lên và James vừa trải qua một cơn phá sản. James làm về địa ốc, chuyên xây dựng và mua đi bán lại các trung tâm thương mại. Sau khi thành công rực rỡ ở thập niên 60’s, 70’s và đầu 80’s, các đòn bẫy tài chánh bị suy thoái kinh tế đập ngược và James phải trắng tay. Nhưng tôi chưa bao giờ gặp một người lỡ vận, thua cuộc mà vẫn yêu đời vui vẻ như vậy. Câu nói ấn tượng nhất của James là,” tôi có thể bị phá sản, nhưng tôi không bao giờ nghèo.”

James kiên trì xây lại sự nghiệp, cũng trong ngành nghề cũ: đầu tư phát triển và mua bán các trung tâm thương mại. Sau 10 năm, đến 1999, thì James lại trở thành tỷ phú. James tìm các chủ nợ ngày xưa và trả lại hết khoản nợ 185 triệu đã được Tòa xóa bỏ và cá nhân James không còn trách nhiệm. James giải thích,” Trên luật của người, còn luật của Trời”. Tôi khâm phục vô cùng hành xử đạo dức này cũng như trong mọi cư xử của James với tha nhân. Khi James gặp khó khăn, tôi mua lại vài miếng đất của James để giúp bạn. Khi James khá hơn, hắn mua lại với giá cao gấp ba. Tôi không chịu lấy lời, James vẫn trích ra số tiền này và đem cho các hội từ thiện mà tôi hay lui tới.

Năm 2007, tôi và James bay lên San Francisco sau một cuối tuần câu cá bay (flying fish) ở Idaho. Đúng vào dịp Tết Nguyên Đán, người đông như kiến ở Chinatown. James nói ngày xưa tổ tiên tao làm thực dân, bắt cha ông mày kéo xe mệt nghỉ. Hôm nay, mày lên cái rickshaw (xe kéo) này, tao trả nợ lại. Trong cái nhìn và reo hò của cả ngàn người, tôi ngồi vất vưởng trên chiếc rickshaw để một anh da trắng hì hục kéo lên dốc. Chỉ tiếc là vài tháng sau đó, James qua đời sau một cơn bạo bệnh. James hay kể chuyện tiếu lâm và bây giờ, khi nghe hay đọc một câu truyện cười, tôi lại thấy thiếu vắng tiếng cười trong sáng dòn tan của bạn.

Một trí tuệ siêu việt

Nhân vật thứ hai cũng tạo rất nhiều ấn tượng nơi tư duy của tôi. EK là ông sếp cũ người Do Thái và cũng là một tỷ phú. Ông vẫn còn sống nên cho phép tôi giữ kín tên ông. Trái ngược với James, ông ít cười và luôn chìm đắm trong suy tư. Trí tuệ của ông thuộc hàng siêu việt và phương thức kinh doanh của ông khó ai vượt trội. Có lẽ mang tính chất du mục của người Do Thái, ông lang thang suốt ngày trên chiếc phản lực Gulfstream, bay khắp thế giới và phần lớn ngủ tại các khách sạn, dù ông sở hữu một penthouse rông hơn 1,000 mét vuông tại Park Avenue, New York và một lâu đài ở Long Island.

Mặt ông lúc nào cũng nhăn nhó khổ sở có lẽ vì ông phải suy nghĩ suốt ngày đủ mọi chiến thuật phức tạp để tóm thâu lục quốc. Một lần chúng tôi làm môi giới cho một giao dịch về máy bay và có thể bỏ túi nhanh chóng khoảng 1 triệu đô la. Nhưng ông nghĩ làm như vậy là quá tầm thường, không xứng đáng với một tài năng thiên phú như ông. Cho nên, ông ngồi vẽ ra một giải pháp là công ty ông sẽ mua chiếc máy bay và bán lại sau khi qua tay vài ngân hàng. Sau 2 năm, giao dịch mới hoàn tất và ông lỗ mất 2.5 triệu đô la.

Ông bị bệnh mất ngủ thường trực. Tuy nhiên, ông lại ngủ rất ngon khi nằm trên máy bay. Một lần, ông phải lưu lại New York cả tuần, ngủ không được. Sau đó, chúng tôi phải gọi máy bay chở ông đi Los Angeles rồi quay lại New York. Ông ngủ ngon lành trong 12 tiếng đó và công ty phải chi ra 22 ngàn đô la cho chuyến bay (phi công, xăng dầu, giấy phép lên xuống phi trường…).

Một con người tầm thường

Một tỷ phú khác nổi danh hơn là ngài Larry Ellison, Chủ Tịch CEO của Oracle. Vào 1998, ông Ellison có sáng kiến tạo ra một hệ thống máy chủ trên đám mây và các PC nối mạng chỉ là những máy đơn giản không cần bộ nhớ (ông đi trước thế giới 15 năm). Ông lập công ty mới gọi là NCI (network computer) và thiết lập một hệ thống phân phối khắp thế giới. Ông cho Hartcourt và vài đối tác của tôi làm đại lý nhượng quyền ở Trung Quốc.

Chúng tôi đầu tư hơn 3 triệu đô la cho dự án này vì tin vào lời cổ động của Ellison qua các cuộc gặp thân mật riêng tư. Tuy nhiên, mọi việc không suông sẻ như ước muốn và sau 14 tháng, ngài Ellison gởi mọi người một Email ngắn gọn, tuyên bố là ông giải thể công ty và nhân viên. Thư từ cũng như điện thoại xin gặp để tìm lời giải thích đều bị từ chối bởi các trợ lý. Các đối tác tôi đòi thưa kiện vì mất tiền và thì giờ, nhưng tôi thì chỉ kết luận là tay này không có hậu, để Trời phạt hắn. Tuy vậy, luật nhân quả không ứng dụng với Ellison: từ một tỷ phú hạng 70 gì đó, sau 13 năm, giờ ông đứng hàng thứ 6 trên thế giới với 28 tỷ đô la tài sản.

Những tỷ phú Á Châu

Tính ra trong 42 năm làm ăn, tôi đã gặp và giao tiếp với hơn 30 tỷ phú thế giới. Tất cả đều có những cá tính đặc thù khó quên. Trên một chuyến bay từ Đài Loan đi Tokyo, tôi đã gặp ngài Wang Yung Ching của công ty Formosa Plastics. Ông mua vé hạng bình dân, được cất nhắc lên hạng thương gia và ngồi cạnh tôi, tiếng Anh bập bẹ. Bộ áo quần nhăn nheo và chiếc đồng hồ Citizens rẻ tiền cho tôi một ấn tượng sai lạc. Cho đến khi ngài đưa ra tấm danh thiếp, tôi cứ nghĩ đây là một anh lái buôn Tàu nhỏ bé vô dụng.

Hay ông Richard Li, con trai thứ của nhà tỷ phú số một Lý Gia Thành ở Hồng Kông. Lúc tôi gặp để thương thảo về một liên doanh với PCCW, Richard vừa bán StarAsia cho Murdoch, thu về cho cá nhân hơn 950 triệu đô la. Khác với ông bố, đây là một tỷ phú trẻ khó thương nhất của Á Châu. Mỗi một giây phút bên cạnh anh là một trải nghiệm như trong cơn ác mộng. Chẳng thế mà câu chuyện khi Richard đi thử đồ may rất được phổ biến khắp giới thượng lưu ở Hồng Kông. Khi mặc bộ đồ veste vào, Richard ngạc nhiên là sao cả áo quần gì đều không có túi. Ông thợ may đáp,” tôi toàn thấy ngài thọc tay móc túi người khác, nên tôi nghĩ ngài không cần.”

Trên mọi đồng tiền…

Nhưng vui nhất là chuyện hai ông Bill Gates và Warren Buffett khi cùng viếng thăm Beijing vào năm 2002. Warren rủ Bill sáng hôm đó đi bộ qua McDonald đối diện khách sạn để ăn sáng. Bill kể cho báo chí là ông rất shocked khi Warren đặt hàng xong, rút túi ra hai phiếu giảm giá 10 RMB (khoàng $1.50) ông vừa cắt trong một nhật báo địa phương. Tôi tiếc là không quen biết gì hai nhân vật giàu nhất nhì thế giới này.

Nhưng tôi chia sẻ một đặc tính với ngài Buffett. Khi báo chí hỏi ông sao áo quần thời trang của ông trông rẻ tiền bệ rạc, ông trả lời,” tôi mua toàn đồ hàng hiệu đấy chứ. Nhưng không hiểu sao chúng lại nhìn rẻ tiền và hạ cấp khi tôi mặc vào.” Không biết ông Bầu Đức có cảm giác này hay không?

Một “tỷ phú” xài “bỉm” hiệu