Tại sao nước ta chậm phát triển – Aziz Nesin

Posted on 18/01/2013

2


chaoyinyang-e1358483321879

“Đất nước này suốt ngày chỉ có lễ hội” là cảm nhận từ sự tràn lan nằm ở những festival, những ngày hội văn hóa, những sự kiện… mà chúng ta mới tạo dựng ra  – (NABB) Người đưa ra ý kiến này, GS Nguyễn Văn Huy, nguyên là Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, đáng chú ý hơn, là con trai của nhà văn hoá Nguyễn Văn Huyên, Bộ trưởng Giáo dục lâu năm nhất từ trước tới nay. Điều thú vị không kém là GS Huy đã đưa ra ý kiến ủng hộ chuyển thời gian đón Tết cổ truyền về theo lịch dương.

“Lúc ban đầu thời Đổi mới, người dân đổ xô đến các đền phủ trước (như đền bà Chúa Kho, phủ Giày) thành phong trào, thành nhu cầu mới của xã hội, rồi mới lan đến quan chức. Nhưng khi quan chức cũng đua nhau có mặt thì lại tác động mạnh hơn nhiều đến đông đảo mọi người. Nếu lãnh đạo dùng thế mạnh dẫn dắt của mình để làm gương cho xã hội, ứng xử bình đẳng, chừng mực với mọi hoạt động tôn giáo tín ngưỡng thì chắc người ta cũng sẽ học theo“.

Tại sao nước ta chậm phát triển

– Aziz Nesin –

Được sự đài thọ của Quỹ từ thiện Mỹ “Đzatơ”, một nhóm chuyên gia kinh tế nổi tiếng của Mỹ chia nhau đi các nước chậm phát triển để điều tra xem nguyên nhân tại sao các nước này lại chậm phát triển. Lúc đầu người ta định gọi chuyến đi của họ là “Cuộc đi khảo sát các nước lạc hậu”. Nhưng sau, xét thấy hai chữ “lạc hậu” có thể mang ý xúc phạm, nên để phù hợp với đường lối đạo đức quốc tế mới, và tranh thủ cảm tình của dân chúng các nước này, người ta thay nó bằng mấy chữ “chậm phát triển”.

Theo sự phân công của Quỹ, ông Trânđơ Uity, giáo sư kinh tế, được phái sang nước Thổ Nhĩ Kỳ. Để giảm nhẹ nhiệm vụ cho giáo sư, người ta tìm sẵn cho ông một người ở Thổ Nhĩ Kỳ để khi sang đó ông chỉ việc tìm cách gặp gỡ, tiếp xúc, đặng thu lượm tin tức. Người ấy tức là ngài Xưtcư, một trong những nhân vật có uy tín nhất về lĩnh vực nói trên.

Khoảng hai, ba tháng sau khi đã hoàn thành sứ mạng của Quỹ Đzatơ tại các nước chậm phát triển, tất cả các chuyên gia và giáo sư đều đã trở về Mỹ. Duy giáo sư Trânđơ Uity, đi nghiên cứu nước Thổ Nhĩ Kỳ, là vẫn không thấy trở về, mà lại cũng không có một tí tin tức gì.

Sợ rằng có thể giáo sư bị ốm, Quỹ Đzatơ đã nhờ giới cầm quyền ở Thổ cho biết địa chỉ của ông, và ngày 26 tháng 4 đã gửi cho ông một bức thư. Ngay sau đó Quỹ đã nhận được thư phúc đáp của giáo sư. Quỹ lại gửi tiếp cho giáo sư một lá thư nữa và cũng lại nhận được thư trả lời ngay. Một cuộc trao đổi thư từ thế là đã thiết lập giữa Quỹ và giáo sư. Sắp tới những bức thư này sẽ được in thành một cuốn sách gồm 3 tập, và theo như người ta dự đoán, những tập thư này có thể trở thành một tác phẩm bán chạy nhất, không phải chỉ ở Mỹ, mà ở khắp thế giới.

Một người Mỹ lãnh việc xuất bản những tập thư này vốn là người bạn cũ của tôi. Ông muốn biết ý kiến của tôi về việc này nên đã gửi cho tôi xem bản thảo. Về phần tôi, xét thấy cũng là điều bổ ích, tôi muốn công bố ra đây một vài bức thư trong số đó để các độc giả cùng đọc.

Ngày 24 tháng Tư năm 1958

Ông Trânđơ Uity thân mến,

Tất cả mọi thành viên trong Tiểu ban nghiên cứu các nước chậm phát triển, trừ có ông, đều đã trở về nước. Chúng tôi rất lo lắng vì đã bốn tháng nay không nhận được tin tức gì của ông.

Chờ thư ông.

Gửi ông lời chào trân trọng.

Ngày 28 tháng Tư năm 1958

Thưa các ngài,

Xin cám ơn các ngài về bức thư ngày 24 tháng Từ 1958. Tôi rất buồn vì cho đến bây giờ vẫn chưa thể cung cấp cho các ngài tin tức gì. Suốt 4 tháng trời nay tôi không sao tiếp xúc được với những nhân vật có thể cung cấp những tin tức cần thiết chỉ vì vướng những ngày hội.

Tự thấy chưa được phép trở về nước khi chưa hoàn thành nhiệm vụ mà Quỹ Đzatơ giao phó, nên tôi quyết định ở lại đây cho đến tận bây giờ. Tôi hi vọng có thể gặp được ngài Xưtcư và các đồng lnghiệp của ông ta trong một ngày gần đây.

Người cộng sự trung thành của các ngài.

Ngày 1 tháng Năm năm 1958

Gửi ông Trânđơ Uity

Chúng tôi hi vọng là đã không hiểu nhầm khi nghĩ rằng ông có ý nói đùa, vì không có nước nào mà hội hè lại có thể kéo dài suốt bốn tháng trời được. Vậy chúng tôi mong rằng chậm nhất là sang tháng Năm này ông sẽ gặp được ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông ta để hoàn tất công cuộc nghiên cứu, và trong thời gian ngắn nhất có thể trở về nước với bản phúc trình đầy đủ về vấn đề tại sao Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn là nước chậm phát triển.

Gửi ông lời chào thành thực.

nghi_tet

Ngày 5 tháng Năm năm 1958

Thưa các ngài

Vào ngày 1 tháng Năm, tức là ngày các ngài viết thư cho tôi, tôi vẫn đang tiếp tục đi tìm ông Xưtcư. Nhưng vì Mồng một tháng Năm là ngày Hội mùa xuân của Thổ Nhĩ Kỳ nên tôi không tài nào tìm được ông ta. Nhưng nhất định thế nào tôi cũng đạt được mục đích. Tôi hi vọng sẽ gặp được ông ta vào một ngày nào đó không phải ngày hội.

Trong bức thư trước tôi không có nói rằng hội hè ở đây kéo dài suốt 4 tháng. Tôi chỉ muốn nói rằng suốt 4 tháng trời tôi không tài nào gặp được ngài Xưtcư vì vướng những ngày hội. Xin các ngài lưu ý cho sự khác nhau giữa hai cách nói. Tôi vẫn chưa mất hi vọng và cho rằng có thể gặp được ngài Xưtcư và các bạn của ông ta vào ngày 6 tháng Năm này.

Đồng sự trung thành của các ngài.

Trânđơ Uity

Ngày 18 tháng Năm năm 1958

Ông Trânđơ Uity thân mến

Bức thư ông báo cho biết ngày 6 tháng Năm chắc chắn ông phải gặp được ngài Xưtcư làm chúng tôi hết sức vui mừng.

Nhưng từ đó đến nay không nhận được thêm tin tức gì của ông, chúng tôi lại bắt đầu thất vọng. Chúng tôi nóng lòng chờ thư trả lời của ông.

Quỹ Đzatơ

Ngày 2 tháng Sáu năm 1958

Các ngài kính mến,

Quả thực tôi có báo cho các ngài biết rằng tôi có hi vọng gặp được ngài Xưtcư vào ngày 6 tháng Năm. Nhưng hôm ấy lúc tôi đến chỗ ông ta, thì ông ta đã đi mất, vì ngày 6 tháng Năm ở Thố Nhĩ Kỳ là ngày Hưdưa Iliát[1], nên không thể gặp ai ở nhà hay ở sở cả. Tôi có thể để lại cho ông ta tấm danh thiếp và báo để ông ta biết tôi sẽ lại thăm ông ta vào ngày 15 tháng Năm. Nhưng ông Xưtcư gọi điện cho tôi đề nghị hoãn sang ngày khác, vì ngày 15 tháng Năm là “Ngày tưởng nhớ các anh hùng phi công tử trận” và vào ngày đó ông phải đọc một bài diễn văn quan trọng. Sáng 19 tháng Năm, tôi lại gọi điện cho ông Xưtcư để thỏa thuận thời gian gặp nhau, nhưng vì 19 tháng Năm là “Ngày hội thể thao và thanh niên” nên cuộc gặp của chúng tôi lại phải hoãn sang ngày khác. Mong các ngài tin rằng tôi không hề dám lơ là trách nhiệm được giao phó và luôn luôn bám sát dấu vết của ông Xưtcư. Tôi vẫn hi vọng chắc chắn sẽ gặp được ông ta vào một ngày không phải ngày hội trong tháng Sáu này.

Đồng sự trung thành của các ngài

Trânđơ Uity

Ngày 27 tháng Sáu năm 1958

Ông Trânđơ Uity thân mến

Chúng tôi đã nhận được tin mừng của ông báo cho biết rằng chắc chắn ông sẽ gặp được ngài Xứtcư nội trong tháng Sáu này. Nhưng vì tháng Sáu đã sắp hết mà vẫn không nhận được tin gì mới của ông, nên tất cả chúng tôi, những đồng nghiệp của ông, lại lấy làm thất vọng. Chúng tôi đề nghị ông nếu thấy không thể gặp được ông Xưtcư thì hãy tiếp xúc với những người khác để lấy các tin tức cần thiết. Chờ thư ông.

Gửi ông lời chào trân trọng.

Ngày 18 tháng Bảy năm 1958

Thưa các ngài,

Sở dĩ tôi chậm phúc đáp là vì muốn chờ một tin vui để báo cho các ngài. Tôi xin nói ngay để các ngài biết rằng tôi sẽ không từ bỏ quyết tâm gặp bằng được ngài Xưtcư và các bạn bè của ông ta, dù rằng trong vòng vài ngày tới tôi vẫn chưa thực hiện được điều đó. Hôm qua tôi lại đến chỗ ông Xưtcư, nhưng rất tiếc vẫn không gặp, vì từ ngày hôm kia là hội Cuốcban Bai-ram[2]. Hội này kéo dài bốn ngày, tức là đến ngày 20 tháng Bảy, và trong thời gian này mà tìm gặp ông Xưtcư thì thật là bất tiện. Ngày 1 tháng Bảy, tức là vào hôm tôi nhận được thư của các ngài, chúng tôi đã suýt gặp được nhau, nhưng rất tiếc ngày 1 tháng Bảy lại là ngày hội Cabôta[3], nên cuối cùng lại không được gặp. Xin các ngài đừng nghĩ là tôi không nỗ lực trong việc tìm gặp bằng được ngài Xưtcư. Mới hôm qua tôi lại tìm đến nhà ông ta. Nhưng khi biết rằng ngày 17 tháng Bảy là ngày hội tôn giáo Asura, nên tôi lại không dám quấy rầy ông.

Các ngài có khuyên tôi nếu thấy không thể gặp được ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông ta, thì tìm gặp các nhân vật khác để thu thập tin tức. Thú thực là không phải là tôi không nghĩ đến chuyện đó. Nhưng vì suốt tháng trời nay tôi theo đuổi ông Xưtcư, nên bây giờ, nếu tôi từ bỏ ý định tìm gặp ông ta vào đúng lúc mà tôi cho rằng tất cả các hội hè hầu như đã vãn, thì toàn bộ công sức của tôi coi như là uổng phí. Với lại, xin các ngài chớ quên rằng đi tìm một nhân vật mới để làm quen ở xứ sở này có thể cũng phải mất đến tám tháng.

Vì vậy tôi quyết định bằng bất cứ giá nào cũng phải tiếp tục tìm gặp bằng được ngài Xưtcư vào một ngày nào đó không phải ngày hội. Hi vọng từ nay đến cuối tháng có thể báo cho các ngài biết tin vui.

Trânđơ Uity

Ngày 2 tháng 9 năm 1958

Ông Trânđơ Uity,

Cả tháng Bảy và tháng Tám đều đã qua mà chúng tôi vẫn không nhận được tin gì của ông. Chờ thư ông.

Ngày 10 tháng 9 năm 1958

Thưa các ngài,

Tôi xin thông báo vắn tắt cho các ngài biết về công việc tôi đã làm tháng hai tháng qua.

Như tôi đã nói trong một lá thư trước, ngày 23 tháng Bảy tôi có đến chỗ ông Xưtcư. Nhưng vì 23 tháng Bảy là ngày kỷ niệm công bố bản hiến pháp đầu tiên, nên cho đến tận bữa ăn trưa tôi vẫn không gặp được ông Xưtcư ở công sở. Để khỏi mất thời gian vô ích, sau bữa ăn tôi gọi điện cho ông ta. Ngày 24 tháng Bảy là ngày Hiệp ước Lôdana[4]. Ngài ta cho tôi biết là ông Xưtcư mắc bận đi dự lễ kỷ niệm. Không để mất hi vọng, tôi quyết định tốt nhất là đến gặp ông ta tại nhà. Và tuần đầu tháng Tám, tôi có đến gặp ông ta vào một buổi tối. Nhưng người ta cho tôi biết là ông đã đi dự dạ hội Hồ-trăn-tử. Ở nước ông Xưtcư người ta trồng nhiều Hồ-trăn-tử, nên mỗi năm một lần lại có dạ hội Hồ-trăn-tử. Ngày hôm sau chúng tôi cũng không gặp được nhau vì trùng vào sinh nhật của bà Xưtcư. Không thất vọng, ba ngày sau tôi lại đến tìm ông ta. Nhưng hôm đó chúng tôi cũng không kịp nói chuyện gì cả, vì ông  Xưtcư vội đi đến một ngôi chùa mà ông thuê người ta cầu siêu cho vị thân sinh đã quá cố của ông. Ngày 30 tháng Tám[5] lại là ngày Hội chiến thắng, nên tất nhiên tôi cũng không thể gặp ông ta ở công sở. Hôm qua, lúc tôi đến chỗ ông ta, thì được bảo là ông đã đi dự lễ kỷ niệm Ngày giải phóng Idơmia, tổ chức vào ngày 9 tháng Chín. Đợi khi nào ông ở Idơmia về, tôi sẽ tìm cách gặp ông ta ngay. Xin cam đoan với các ngài là không ngày nào tôi để mất hút bóng ông ta.

Gửi các ngài lời chào kính trọng.

Trânđơ Uity

Ngày 8 tháng 10 năm 1958

Gửi ông Uity,

Quỹ Đzatơ quyết định ngừng việc tìm hiểu nguyên nhân chậm phát triển của đất nước mà ông đang ở. Vậy xin cám ơn ông đã có nhiều nỗ lực và yêu cầu ông trở về nước để tiếp tục các nhiệm vụ bình thường.

Quỹ Đzatơ

Ngày 16 tháng 10 năm 1958

Thưa các ngài,

Qua bức thư cuối cùng của các ngài tôi hiểu rằng Quỹ Đzatơ quyết định ngừng việc đài thọ cho cuộc nghiên cứu ở nước này. Nhưng vì không muốn để công sức mà tôi đã bỏ ra suốt gần 1 năm nay phải uổng phí, nên tôi quyết định sẽ sử dụng tài chính của riêng cá nhân tôi để tiếp tục công việc và sẽ nỗ lực đến giọt máu cuối cùng để gặp cho được ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông. Vấn đề là ở chỗ: chính bản thân tôi giờ đây cũng rất muốn giải đáp được câu hỏi tại sao nước này chậm phát triển, và bằng bất cứ giá nào tôi cũng phải giải đáp cho được câu hỏi đó.

Tuy các ngài đã có thư yêu cầu tôi như vậy, tôi vẫn xin phép được trình bày vắn tắt với các ngài về công việc tôi đã làm ở đây, vì mấy tháng vừa qua tôi vẫn không chịu ngồi im. Mặc dù ngày 15 tháng Chín tôi không gặp được ngày Xưtcư vì vướng vào ngày kỷ niệm Bácbarốt[6]. Nhưng tôi được thông báo cho biết là đến 27 tháng chín tôi sẽ được yết kiến ngài Xưtcư tại nơi làm việc. Nhưng té ra 27 tháng Chín lại là ngày Hội tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Bao nhiêu hi vọng đành lại phải chuyển sang tháng Mười. Hôm mồng 6 tháng Mười, chúng tôi lại hụt mất cuộc gặp nhau, chỉ vì hôm đó là ngày kỷ niệm giải phóng Xtămbun. Ba hôm sau tôi đến sở của ông Xưtcư thì được biết ông bận kỷ niệm ngày cưới nên không đến sở.

Từ 28 tháng Mười là bắt đầu 3 ngày Hội Cộng hòa. Trong những ngày hội dân tộc này mà đi quấy rầy người khác tất nhiên là một điều ngu ngốc. Đành lại phải chờ đến tháng Mười một. Trong nhưng ngày tới tôi hi vọng sẽ bắt được ông Xưtcư vào giữa hai ngày hội và sẽ trao đổi với ông về vấn đề tại sao nước ông ta lại chậm phát triển như vậy.

Gửi các ngài lời chào trân trọng.

Ngày 2 tháng 10 năm 1958

Ông Uity thân mến,

Từ lâu Quỹ Đzatơ đã thôi đài thọ cho nhiệm vụ nghiên cứu các nước chậm phát triển. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn muốn biết tại sao đất nước mà ông đang ở lại là nước chậm phát triển, và chúng tôi sẽ rất biết ơn ông nếu ông tiếp tục cho chúng tôi biết kết quả những cuộc điều tra của ông.

Gửi ông lời chào kính trọng.

Ngày 18 tháng 10 năm 1958

Thưa các ngài,

Tôi xin thông báo vắn tắt để các ngài biết về những nỗ lực của tôi trong thời gian qua.

Ngày 10 tháng Mười một là ngày Quốc tang[7] của Thổ Nhĩ Kỳ. Chờ cho không khí đau buồn đã dịu, ba ngày sau, tức là ngày 13 tháng Mười một, tôi có đến chỗ ông Xưtcư. Nhưng người ta cho tôi biết ông đã đi Ancara dự lễ kỷ niệm ngày dời thủ đô về thành phố này. Một tuần sau thì ông về, nhưng tôi vẫn không gặp được, vì ông đi xem đá bóng. Hôm sau lại là ngày hội Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế. Hội này kết thúc thì lại bắt đầu tháng diệt ruồi. Chương trình hoạt động của năm 1958 như vậy coi như kết thúc. Sang năm mới, tôi hi vọng có nhiều khả năng gặp được ông Xưtcư. Dù khó khăn thế nào tôi cũng quyết tìm gặp được ông vào một ngày nào đó không có hội hè, mít tinh kỉ niệm hay đá bóng đá banh gì cả, và nhất định cuối cùng sẽ tìm hiểu được nguyên nhân vì sao nước ông ta chậm phát triển.

Trânđơ Uity trung thành của các ngài.

Ngày 28 tháng Hai năm 1959

Kính gửi ông Uity

Sau bức thư cuối cùng với nhiều hi vọng và hứa hẹn của ông, chúng tôi không nhận được thêm của ông tin tức gì nữa. Chúng tôi rất lo lắng trước sự im lặng của ông.

Quỹ Đzatơ

Ngày 10 tháng Ba năm 1959

Thưa các ngài,

Năm 1959 đối với tôi là một năm đầy hi vọng. Trong năm nay, nếu thánh Ala phù hộ thì tôi có cơ hội gặp được ngài Xưtcư. Tôi muốn chia xẻ với các ngài niềm hi vọng này. Ngày 1 tháng Giêng tôi không thể đến chỗ ngài Xưtcư được vì là năm mới. Hôm sau tôi cũng không dám quấy rầy ông, vì vướng lễ Đêm Thánh sinh. Tiếp đó là ngày kỷ niệm chiến thắng Inêniu[8]. Tôi thấy làm phiền ông ta trong những ngày này thì thật là không tiện, nên đành trông mong vào tháng Hai. Ngày 4 tháng Hai là lễ dâng thánh và ngài Xưtcư phải đi lễ. Sau khi xem kỹ  lai lịch và biết rằng ngày 16 tháng Hai không có hội hè hay lễ bái gì cả, tôi lại chứa chan hi vọng.

Nhưng thật không may, đúng ngày đó ngài Xưtcư lại được mời đi dự tiệc tại trường học mà trước đây ngài đã từng học. Ngày 22 tháng Hai là ngày Thiên khải của thánh Muhamét. Tôi định ngày mai sẽ lại chơi ngài Xưtcư, nhưng chợt nhớ ra mai là bắt đầu Tháng ăn chay. Nếu có tin tức gì mới tôi sẽ báo cho các ngài biết ngay.

Trânđơ Uity

Ngày 24 tháng Tư năm 1959

Thưa các ngài,

Trong suốt hai năm qua tôi không thể tìm được ngày nào không phải ngày hội để nói chuyện với ngài Xưtcư và các đồng nghiệp của ông ta. Ngày 12 tháng Tư, khi chấm dứt Tháng Ăn chay thì lại bắt đầu Tuần ăn thịt. Đợi vài ngày cho ngài Xưtcư hồi sức sau hai tháng ăn chay, tôi đến thăm ông ta, nhưng người ta cho biết hôm ấy là ngày 23 tháng Tư, tức là ngày Hội trẻ con. Ngày mai tôi sẽ từ giã xứ sở này.

Trânđơ Uity

Sau khi Giáo sư Trânđơ Uity về nước, Quỹ Đzatơ có yêu cầu ông trình bày lại những kết quả điều tra của mình, nhưng giáo sư nói:

– Thưa các vị, mặc dù đã tốn khá nhiều thời gian và công sức, nhưng tôi không sao tiếp xúc được với một nhân vật nào ở xứ sở này cả, vì những ngày hội hè ở đây quá nhiều. Vì thế tôi không thể tìm hiểu được nguyên nhân vì sao nước này chậm phát triển. Tôi không thể nói gì về vấn đề này cả. Tôi chỉ có thể nói rằng chính bản thân tôi giờ đây cũng đang khao khát muốn biết tại sao nước này chậm phát triển.

Bị chú: Tôi đã viết thư cho ông bạn nhà in Mỹ, người đã có nhã ý cho tôi đọc bản thảo tập thư mà tôi vừa công bố cho các bạn xem mấy bức, và khuyên ông ta cho in ngay tập thư đó. Không hiểu liệu ông bạn nhà in đáng kính có thực hiện lời khuyên của tôi hay không.

Thái Hà dịch


[1] Tên một vị thánh

[2] Cuốcban Bairam – một ngày lễ của đạo Hồi.

[3] Hội Cabôta – Dưới triều vua Ôxman, nước Thổ bị các đế quốc lân cận tước mất quyền xây dựng các chiến thuyền chạy dọc bờ biển. Về sau nhờ các đấu tranh giải phóng dân tộc, Thổ đã giành lại được quyền này.

[4] “Ngày Lôdana” – Ngày 24 tháng Bảy 1624 tại Lôdân (Thuỵ Sĩ) Thổ Nhĩ Kỳ đã ký với các quốc gia Antanta một bản hoà ước và một bản công ước về việc sử dụng các eo biển Bắc-Hải.

[5] Ngày 30 tháng Tám 1922, quân đội của Phong trào giải phóng dân tộc Thỗ Nhĩ Kỳ dưới sự chỉ huy của tướng M.Kê-mand đã đánh tan quân xâm lược Hy Lạp tại Dumlupưma.

[6] Bácbarốt (1473-1566). Một tư lệnh hải quân nổi tiếng dưới triều vua Ôxman.

[7] Ngày 10 tháng Mười một 1938, là ngày từ trần của Mus-tapha Kêman Atachiuc, người sáng lập và là tổng thống đầu tiên của nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ.

[8] Ngày 10 tháng Giêng 1921 là ngày Quân giải phóng dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ giành được chiến thắng đầu tiên trước bọn xâm lược Hy Lạp tại Inêniu.

tet-la-phai-choi-dao

Đất nước này suốt ngày chỉ có lễ hội?

Tác giả: Khánh Linh

Bài đã được xuất bản.: 16/06/2010

  • Phải chăng lễ hội đang dẫn chúng ta lạc đường?
  • Lễ hội hay khí phách dân tộc thăng hoa?
  • Lễ hội qua đi, điều gì ở lại?
    Sự tràn lan nằm ở những festival, những ngày hội văn hóa, những sự kiện… mà chúng ta mới tạo dựng ra, tạo cảm giác “đất nước này suốt ngày chỉ có lễ hội”, và “làm méo mó, mất đi giá trị mà chúng ta đang cần giữ”. – PGS Nguyễn Văn Huy (Nguyên GĐ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) chia sẻ.Hội nghị đánh giá công tác quản lý và tổ chức lễ hội năm 2010 hôm 15/6 khác biệt hẳn và gây chú ý ngay từ phần mở đầu của Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở Nguyễn Đạo Toàn.Tuyệt nhiên không “rào đón” khoe thành tích đạt được, mà đi thẳng ngay vào những câu hỏi “sốc”: “lễ hội có tràn lan không? có lãng phí tốn kém không? tổ chức có trùng lắp, nghèo nàn không?” hay “di tích có bị biến dạng không? có thương mại hóa trong quản lý, sử dụng di tích không?”. Chỉ cần nghe phần mở đầu đã có quyền hy vọng vào quyết tâm của Bộ VH – TT – DL lần này sẽ ra tay chấn chỉnh những vấn đề nổi cộm “diễn ra trong nhiều năm nay, ĐBQH kỳ nào cũng hỏi Bộ trưởng, cơ quan bộ phải thường xuyên trả lời ý kiến” nhưng vẫn chưa làm được.Những câu hỏi “vĩ mô” như “gần 8000 lễ hội dân gian có là nhiều không? Hay thời gian qua xuất hiện hàng loạt các lễ hội vùng miền, lễ hội du lịch mới khiến dư luận nói lễ hội tổ chức tràn lan? lễ hội vùng miền, lễ hội tỉnh 2 năm/lần có dày không?” đến việc chấn chỉnh những hoạt động rất cụ thể như đốt vàng mã nhiều quá (như Phủ Giày mỗi ban đồng hình nhân thế mạng xếp cao như núi), ban thờ, hòm công đức đặt nhiều quá (chỉ cần có một gốc cây vài nén nhang đặt lên cũng thành hòm công đức), trong khi việc quản lý còn lộn xộn đều được thẳng thắn trao đổi.

Minh oan cho lễ hội làng

Liên quan tới câu hỏi lễ hội có thực sự tràn lan hay không, TS Lê Minh Lý (Cục phó Cục Di sản văn hóa), PGS Nguyễn Văn Huy (Nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học VN); PGS Nguyễn Chí Bền (Viện trưởng Viện nghiên cứu văn hóa)… cùng nhận xét: Phải tách bạch rõ giữa lễ hội dân gian của người dân và những liên hoan mang tính phong trào, những biến tướng lễ hội do sự can thiệp của địa phương… từ đó mới có được kết luận xác đáng, không thể nhập nhèm lẫn lộn được. Lễ hội dân gian do dân làng làm chủ thể thì ở bất cứ quốc gia nào cũng là vốn quý cần được bảo vệ. Các festival, liên hoan văn hóa từ cấp tỉnh, đến cấp vùng, miền… ở đâu và lúc nào cũng hao hao giống nhau thì đúng là làm theo phong trào, phát triển tràn lan, gây lãng phí lớn.

8000
“gần 8000 lễ hội dân gian có là nhiều không? Hay thời gian qua xuất hiện hàng loạt các lễ hội vùng miền, lễ hội du lịch mới khiến dư luận nói lễ hội tổ chức tràn lan? lễ hội vùng miền, lễ hội tỉnh 2 năm/lần có dày không?”. Ảnh: VNE

TS Lê Minh Lý dẫn câu chuyện Hồng Kông đang phải cố gắng “vét” những gì còn lại để nâng niu, thế hệ chủ thể không còn thì đào tạo ra chủ thể mới để giữ di sản, hay Quảng Tây (Trung Quốc) đưa hội hát của người Kinh ở Móng Cái vào danh mục di sản phi vật thể quốc gia của họ… Đây là những ví dụ tốt để cảnh báo chúng ta đừng tư duy kiểu “có quá nhiều lễ hội, nên chăng dẹp bớt?”.

Theo bà Lý, các lễ hội của cộng đồng thì hãy để cộng đồng bảo vệ, lưu giữ một cách tự nhiên, bởi “bảo vệ lễ hội chính là bảo vệ sự đa dạng văn hóa của các vùng miền, các địa phương, các cộng đồng

PGS Nguyễn Văn Huy thẳng thắn chỉ ra những lễ hội làng không bị tác động bên ngoài thì vẫn giữ được giá trị, không thể gọi là tràn lan vì nó đã được trải nghiệm và lưu giữ qua nhiều thế kỷ, là nhu cầu thật sự của cộng đồng, nơi lưu giữ bản sắc rất riêng, rất quý.

Ông Huy khẳng định: sự tràn lan nằm ở những festival, những ngày hội văn hóa, những sự kiện… mà chúng ta mới tạo dựng ra, tạo cảm giác “đất nước này suốt ngày chỉ có lễ hội“, và “làm méo mó, mất đi giá trị mà chúng ta đang cần giữ”.

PGS Nguyễn Chí Bền cũng đồng cảm việc lễ hội đang “bị oan” vì bị nhập chung với festival, những sự kiện văn hóa… khiến truyền thông và ĐBQH đánh đồng và đánh giá lễ hội tràn lan.

Ông Biền thẳng thắn đề nghị nên “dịch một cách giản dị, festival thì dịch thẳng là liên hoan” để tránh bị đánh đồng với lễ hội dân gian. Yêu cầu đầu tiên của festival là hiệu quả kinh tế, hiệu quả quảng bá hình ảnh, nên việc lãnh đạo, quan chức có mặt có khi là cần thiết, còn có lãng phí, tràn lan không cũng chỉ nên đánh giá trong phạm vi những liên hoan này.

PGS Huy có phần lo lắng khi đang xuất hiện xu hướng một số địa phương muốn nâng cấp lễ hội dân gian từ cấp thấp lên cấp cao, từ huyện thành tỉnh, khu vực, quốc gia hoàn toàn không phải vì giá trị văn hóa mà chỉ để có thêm kinh phí, như câu chuyện lễ hội Tịch Điền mới phục dựng năm 2009 thì năm 2010 đã thành lễ hội cấp tỉnh và đích thân Chủ tịch nước về tham dự. Ông gọi đó là “căn bệnh” khi đánh giá lễ hội không theo những chuẩn mực văn hóa.

Không đồng tình với quan điểm của PGS Nguyễn Văn Huy, TS Trần Hữu Sơn – GĐ Sở VH – TT – DL Lào Cai lại cho rằng việc nâng cấp lễ hội lên cấp vùng, cấp quốc gia là xu thế tất yếu, cũng như việc phục dựng lễ hội Tịch Điền là nhu cầu của… cả nước.

Chốt lại, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh rất thẳng thắn khẳng định có sự tràn lan trong tổ chức những festival, và Bộ sẽ làm gương: “Bộ sẽ thôi không tổ chức những Ngày văn hóa vùng này vùng khác nữa. Tần suất 2 năm/lần với festival cũng là quá dày, sắp tới sẽ quy định 4 – 5 năm/lần, mong địa phương hết sức thông cảm“. Riêng việc nâng cấp, phục hồi lễ hội, Bộ trưởng hứa sẽ có chỉ đạo cụ thể và hẹn “khi Bộ có ý kiến là các tỉnh phải thực hiện“.

Chính quyền không can thiệp vào lễ hội của dân

Đại diện Sở văn hóa các tỉnh lên phát biểu đều khẳng định lễ hội đã được tổ chức tốt hơn, rồi không thể chỉ đổ lỗi cho sở VH – TT – DL được.

Chuyện lễ khai ấn đền Trần cũng là “điểm nóng” của hội nghị. Tân GĐ Sở VH – TT – DL Nam Định, ông Đỗ Thanh Xuân khẳng định năm vừa rồi lễ hội đền Trần được tổ chức rất tốt, “đã được đánh giá bởi HĐND tỉnh, trong khi vẫn có những bài báo không đúng, vì nhiều PV không trực tiếp đến đó”.

Trước đề xuất của Bộ nên chăng sẽ chỉ có lễ khai ấn mà không phát ấn nữa, ông Xuân cho rằng việc này đã trở thành tục lệ truyền thống, là nhu cầu tất yếu của Đảng bộ nhân dân Nam Định, và hứa sẽ báo cáo ý kiến Bộ trưởng với lãnh đạo tỉnh chứ bản thân ông không đủ thẩm quyền quyết đáp.

Câu chuyện đốt vàng mã ở đền Bà Chúa Kho được Cục văn hóa cơ sở đánh giá là quá tràn lan và được Cục trưởng Nguyễn Đạo Toàn đề xuất nên chăng từ năm sau không đốt vàng mã nữa đã bị đại diện Sở VH – TT – DL Bắc Ninh phản ứng theo cách… thừa nhận “so với trước đây đã hạn chế”, và chỉ đưa ra lời hứa “sắp tới tỉnh Bắc Ninh sẽ chỉ đạo để chặt chẽ hơn, có hiệu quả hơn” chứ không đồng ý “bỏ, không đốt vàng mã nữa”.

“Phản pháo” lại khẳng định việc khai ấn chính là thưởng công, ban phát bổng lộc, GS Nguyễn Quang Ngọc (Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội), Tổng chủ biên Địa chí Nam Định, khẳng định ý tưởng này mới chỉ được “nghĩ ra” trong vài chục năm gần đây, “còn cái mới nghĩ ra có hay, chuẩn không thì cứ đánh giá“, ông Ngọc thẳng thắn.

    150098_500

Không nên để chính trị, tỉnh ủy can thiệp quá sâu vào tổ chức lễ hội mang tính dân gian.. Nói đến lễ hội là nói đến cái gốc lịch sử, chứ không thể sáng tác ra rồi bảo đó là lịch sử thì là nhạo báng lịch sử“, ông Ngọc kết luận.

Vụ trưởng Vụ Pháp chế Lê Anh Tuyến còn “nặng tay” hơn khi thẳng thắn đánh giá việc phát ấn chính là một cách để thu hút khách, để có tiền, và “thương mại hóa lễ hội chính là những việc như thế này“.

Bộ trưởng “dọa” ngành văn hóa

Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh rất thẳng thắn và chi tiết khi giành hẳn hơn 30 phút để tổng kết hội nghị.

Theo ông, ngành văn hóa phải chịu trách nhiệm về việc quản lý lễ hội, chứ không thể đổ lỗi cho ai được. Không né tránh ranh giới nhạy cảm giữa tín ngưỡng và mê tín, Bộ trưởng khẳng định: không phải chúng ta có gì thì người âm có cái đó, chúng ta hướng đến cõi thần thánh là hướng đến những người có công với đất nước, còn cầu xin thần thánh để giàu có, để lên chức to rồi sống vô bổ, không lao động, không rèn luyện là chuyện không thể chấp nhận được.

Nếu cứ cầu xin là lên chức to thì cả nước lên chức to hết rồi!“, Bộ trưởng “hài hước”.

Ông gợi ý, các tỉnh tự chọn 1, 2 hay 3 hòm công đức trong một di tích chứ không thể quá nhiều, mọi thứ tiền phải cho hết vào đó, chứ không để tiền giọt dầu vào khay, rồi nhét tiền cả vào tay Phật bà như Bộ trưởng đã trực tiếp chứng kiến.

Bộ sẽ đi kiểm tra và nhắc nhở những nơi chưa thực hiện, đích thân tôi cũng sẽ đi“, Bộ trưởng chính thức lên tiếng “dọa” ngành văn hóa do chính ông đang quản lý.

http://www.tuanvietnam.net/2010-06-16-dat-nuoc-nay-suot-ngay-chi-co-le-hoi-

bia

Đừng biến tín ngưỡng thành cuồng si
PGS Nguyễn Văn Huy, nguyên GĐ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Vấn đề phức tạp trong thực hành tâm linh ở nước ta hiện nay có phải do điều kiện kinh tế thị trường, hàng hoá quy định hay trước hết do nhận thức không đầy đủ ở mỗi người? – PGS Nguyễn Văn Huy, nguyên GĐ Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, đặt câu hỏi.

LTS: Gần đây, những lễ hội vốn quy mô làng xã hoặc của một vùng như Bà Chúa Kho, Đền Trần, Phủ Giầy… có tiếng là “thiêng”, đột nhiên mở rộng đến… tầm quốc gia. Quan chức khắp nơi công khai đánh xe công về “dự lễ”, dân chúng thập phương thấy thế càng đổ dồn về “ăn mày lộc thánh”. Quan niệm “dương sao âm vậy” gần như đã bị thay bằng “quan sao dân vậy”.

Nhưng quan chức cấp cao công khai đến lễ hội có nhằm gửi “một thông điệp” nào đó cho dân chúng? Dù là cố ý hay vô tình thì họ cũng đã góp phần làm biến tướng lễ hội và đang chi phối đời sống tín ngưỡng dân gian.

Để hiểu rõ hơn vấn đề này, VietNamNet đã có cuộc trao đổi với PGS Nguyễn Văn Huy, nguyên GĐ Bảo tàng Dân tộc học VN.

Lẫn lộn giữa tư cách cá nhân và nhà nước

– Tôi rất băn khoăn việc hàng loạt lãnh đạo nhà nước, từ cấp cao nhất đến các quan chức các bộ ngành, các địa phương thực hành việc khai ấn ở Lễ khai ấn đền Trần hay làm lễ tịch điền từ vài năm nay. Chưa kể người thực hiện nghi lễ khai ấn lại là những lãnh đạo cấp cao (năm ngoái là Chủ tịch nước, còn năm nay là Phó thủ tướng).

Ai cũng biết lễ Khai ấn đền Trần là nghi lễ mang tính tâm linh, tín ngưỡng trong dân gian. Nhiều đền – chùa – phủ khác cũng có những nghi lễ đầu năm của họ. Dù có rất thiêng thì, theo tôi, đây cũng không phải là câu chuyện khai ấn của cơ quan nhà nước, của việc thực hành một động tác cụ thể là đóng dấu khai ấn của bất cứ vị quan chức nào đại diện cho nhà nước. Đó hoàn toàn là công việc của nhà đền. Với sự tham gia của hàng loạt quan chức không phải với tư cách cá nhân mà với tư cách nhà nước phải chăng là đang can thiệp quá sâu vào hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo; vô hình chung tạo ra sự khuyến khích, thúc đẩy người dân trong toàn xã hội, biến tín ngưỡng thành một phong trào cầu xin chức vị ở ngôi đền này.

Lễ tịch điền xưa là nhà vua với tư cách là thiên tử của đất nước nông nghiệp, là con trời nên ông ta mở luống cày đầu năm mang ý nghĩa giao hòa Trời- Đất, cầu cho những mùa vụ bội thu, sinh sôi nảy nở. Thái Lan, Campuchia là nước quân chủ, còn vua nên vẫn giữ lễ này. Ở Việt Nam, Lễ này đã mất từ lâu, ý nghĩa và bối cảnh không còn nữa, nay lại phục hồi như một di sản văn hoá có đúng không? Nếu muốn thực hành khuyến nông thì có lẽ có nhiều cách làm hay hơn. Cho nên rất cần xem lại một cách cơ bản câu chuyện ranh giới giữa tín ngưỡng, tôn giáo và nhà nước hiện nay.

                        HuýG

PGS Nguyễn Văn Huy. Ảnh: Khánh Linh

– Theo PGS thì cá nhân các nhà lãnh đạo không nên có hành vi khuyến khích việc thực hành tín ngưỡng?

Tôn giáo, tín ngưỡng là sự lựa chọn của mỗi người. Nhà nước cần có thái độ rõ ràng, bình đẳng giữa các tôn giáo, chứ không thể thiên về tôn giáo này trong khi lại bỏ quên hay xem nhẹ tôn giáo khác. Hơn nữa một lãnh đạo cơ quan nhà nước dù ở cấp nào có thể tham gia một nghi lễ với tư cách cá nhân, không tiền hô hậu ủng, không quay phim chụp ảnh, mà chỉ như một “tín đồ”, thì đó là câu chuyện của cá nhân vị lãnh đạo ấy. Như Tổng thống Hoa Kỳ George Bush khi đến Hà Nội dịp APEC cũng đi lễ nhà thờ Cửa Bắc như một tín đồ, chứ không phải với tư cách tổng thống.

Còn ở ta đang có sự lẫn lộn giữa tư cách cá nhân và tư cách đại diện nhà nước. Khi lãnh đạo nhiều cấp cùng có mặt tại Lễ khai ấn đền Trần thì phải phân chia thứ bậc: thẻ đỏ mới được vào trong, thẻ vàng chỉ ở vòng ngoài; rồi ai được có ấn trước, ai phải chờ sau… Thứ bậc của hệ thống chính trị lại trở thành thứ bậc trong một nghi lễ tín ngưỡng dân gian. Lãnh đạo được ưu tiên sắp xếp vào trong, ai cũng sẽ có ấn, thì làm sao trách việc người dân chen lấn xô đẩy ở ngoài?

Quá nhiều lãnh đạo có mặt ở các sự kiện Phật giáo, những người của các tôn giáo khác sẽ cảm thấy thế nào? Tôi vẫn cảm thấy có chuyện gì đó chưa ổn nếu không suy xét lại câu chuyện này một cách nghiêm túc, chúng ta sẽ vô tình làm mất đi sự bình đẳng văn hóa trong đời sống tâm linh.

andẻntaQuang cảnh một lễ Khai ấn đền Trần. Ảnh: TTXVN

Làm ăn với thần thánh?

– Bản thân PGS nhìn nhận thế nào về Lễ khai ấn đền Trần nói riêng, và các nghi lễ tín ngưỡng nói chung?

Mùa xuân này tôi đi hội Đền Sóc, cũng mang cành lộc “hoa tre” vàng về cắm ở nhà, vừa như một kỷ niệm đẹp của một dịp đi hội, vừa có ý đặt niềm tin ở lộc Thánh – Thánh Gióng. Nhiều đền, chùa, phủ cũng phát “lộc” theo hình thức này hay hình thức khác. Chính điều này góp phần tạo ra những nét riêng cuốn hút. Tại sao tất cả phải dồn về đền thờ Bà Chúa Kho, chùa Hương hay đền Trần trong thời điểm cao điểm nhất? Phải chăng chỉ giờ khắc ấy mới là linh thiêng như dân gian vẫn quan niệm? Thế những thời điểm khác cũng ở đền ấy, chùa ấy thì sao?

Tôi cho rằng rất cần làm cho xã hội nhận thức đúng đắn về tâm linh, để không vượt quá ngưỡng cần có, nếu không sẽ trở thành cuồng si. Niềm tin tâm linh có thể cho con người thêm sự quân bình, thanh thản trong cuộc sống, chứ không phải lên đền, chùa, phủ chỉ để cầu chức vụ, cầu tiền bạc bằng mọi giá. Nhìn cách người ta chen chúc ở các đền, chùa, phủ hiện nay ở nhiều nơi ở đồng bằng Bắc bộ, dễ có cảm giác đây là chốn để làm “kinh tế” với thần thánh, nó khác với truyền thống xưa kia và khác cả với nhiều nơi khác ở nước ta. Đó cũng là điều suy nghĩ.

Một vấn đề rất cần đặt ra, không lẽ niềm tin tín ngưỡng của người Kinh lại lớn hơn, mạnh mẽ hơn so với niềm tin tín ngưỡng của người Khmer, người Chăm… cùng trên đất nước ta? Họ cũng có đền, chùa nhưng họ giữ được cốt cách, lề lối mà không bị lôi cuốn “ào ạt”, bị “tha hóa” như ta thấy. Cùng một môi trường xã hội như nhau nhưng tại sao trong nhà thờ Công giáo lại giữ được kỷ cương, không có những biến tướng thiên về “kinh tế’ như ở nhiều đền chùa hay tín ngưỡng dân gian (như đạo Mẫu…).

Còn xin nhìn ra nước ngoài, những nước Phật giáo phát triển mạnh như Ấn Độ, Thái Lan, Lào và cả Trung Quốc nữa… cũng hoàn toàn không có cách ứng xử như người Việt? Nhiều nước phát triển trước chúng ta về kinh tế thị trường nhưng mà họ lại vẫn giữ được niềm tin trong sáng hơn, thuần tuý tâm linh hơn? Họ đến đền chùa để cầu mong đạt được hạnh phúc, bình an, phát đạt hay thăng tiến một cách rất trân trọng, rất văn minh mà không quá phụ thuộc vào tiền bạc và lễ vật dâng cúng. Cho nên vấn đề phức tạp trong thực hành tâm linh ở nước ta hiện nay có phải do điều kiện kinh tế thị trường, hàng hoá quy định hay trước hết do nhận thức không đầy đủ ở mỗi người? Đây là những câu hỏi cần phải nghiêm túc đặt ra.

tichdien

Quan trí bị dân trí tác động?

– Theo PGS, giữa những tín đồ của tôn giáo, tín ngưỡng và những người hành nghề tôn giáo tín ngưỡng ở nước ta, ai làm hỏng ai?

Tôi đã có dịp trò chuyện với một vài nhà sư tu nghiệp nhiều năm ở Thái Lan, Ấn Độ về, họ kể bên đó việc tu hành theo giáo lý nhà Phật rất nghiêm. Họ bày tỏ nỗi băn khoăn dường như là chuyện tu hành của ta có nhiều cái “hổng”, bị biến tướng, ở đâu đó mang nhiều màu sắc vừa “hàng hóa” vừa tà thuật.

Thực tế hiện nay nhiều quan chức không chỉ đi lễ hay cung tiến cho đền chùa, mà họ còn bị “điều khiển” bởi các vị hành nghề tín ngưỡng thông qua hệ thống phong thủy, từ cổng cơ quan nên mở hướng nào, từ chỗ ngồi, cửa ra vào hướng vào đâu, đến việc phải xuất hành giờ nào cũng có người tư vấn. Chính tác động này khiến nhiều người bị phụ thuộc, có cảm giác không làm chủ được tình thế, nếu năng lực bản thân không đủ thì càng phải dựa vào những “thế lực” thần linh, cùng với việc mua quan bán chức mà xã hội đang lên án chẳng hạn?

– Biết đâu nhiều lãnh đạo có mặt ở những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chỉ hoàn toàn vì vô tình? Theo PGS, lãnh đạo sẽ có vai trò gì trong việc chấn chỉnh sự nhộn nhạo ở các nghi lễ, lễ hội?

Quan trọng nhất vẫn là nhận thức của mỗi cá nhân dựa trên nền tảng văn hóa của chính mình và của xã hội. Muốn vậy vai trò của giáo dục là vô cùng quan trọng. Rất cần những người lãnh đạo sáng suốt, minh triết để dẫn dắt xã hội theo đúng hướng, kể cả trong văn hóa. Công bằng mà nói, quan trí cũng bị dân trí tác động. Lúc ban đầu thời Đổi mới, người dân đổ xô đến các đền phủ trước (như đền bà Chúa Kho, phủ Giày) thành phong trào, thành nhu cầu mới của xã hội, rồi mới lan đến quan chức. Nhưng khi quan chức cũng đua nhau có mặt thì lại tác động mạnh hơn nhiều đến đông đảo mọi người. Nếu lãnh đạo dùng thế mạnh dẫn dắt của mình để làm gương cho xã hội, ứng xử bình đẳng, chừng mực với mọi hoạt động tôn giáo tín ngưỡng thì chắc người ta cũng sẽ học theo.

http://www.tuanvietnam.net/2010-03-15-dung-bien-tin-nguong-thanh-cuong-si