Ngày 19/5 nhớ tới câu nói nổi tiếng về “lợi ích”

Posted on 19/05/2013

0


Image.aspx

“Vì lợi ích mười năm – trồng cây, vì lợi ích trăm năm – trồng người” là lời huấn dụ nổi tiếng mà lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói. Tình cờ Yahoo Hỏi Đáp! có câu hỏi về tác giả lời nói trên, vì thấy xuất hiện trong phim “Thái hậu Bắc Ngụy” (lỗi là do chiếu quá nhiều phim Trung Quốc, thiện tai thiện tai).  Đa số người trả lời cho biết ý này lần đầu xuất hiện trong sách Quản Tử của Quản Trọng, một trong những mưu thần số một thời Xuân Thu.

Nguyên văn:

“Nhứt niên chi kế mạc như thụ cốc
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
Chung thân chi kế mạc như thụ nhơn
Nhứt thu nhứt hoạch giả, cốc dã
Nhứt thu thập hoạch giả, mộc dã
Nhứt thu bách hoạch giả, nhơn dã”

Tạm dịch:

“Kế một năm, chi bằng trồng lúa
Kế 10 năm, chi bằng trồng cây
Kế trọn đời, chi bằng trồng nguời.
Trồng một, gặt một, ấy là lúa
Trồng một, gặt mười, ấy là cây
Trồng một, gặt trăm, ấy là người”

Liên quan:

Dù không phải là tác giả nguyên gốc của “Chung thân chi kế mạc như thụ nhơn”, chắc chắn Trong-cay-3Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng “chi kế” này xuất sắc không kém gì bậc quân vương nào trong lịch sử. Câu chuyện vô cùng xúc động dưới đây phản ánh phần nào sự vận dụng tài tình đó.

Nghe nói, bác sỹ Vũ Đình Tụng, luật sư Phan Anh, luật sư Vũ Đình Hòe (người có tên trong Hiến pháp 1946 chép tay trong Bảo tàng Lịch sử), GS. Ngụy Như Kon Tum, .v.v. và nhiều trí thức khác, có thể xếp vào hàng ngũ công thần đặt nền móng cho nhiều ngành, nghề của Việt Nam sau này, không phải là đảng viên cộng sản. Tuy nhiên, tất cả đều đồng lòng đứng dưới sự nghiệp giải phóng dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Bác sĩ Vũ Đình Tụng: Vị Bộ trưởng được Hồ Chủ tịch gọi bằng “Ngài” 

(Lanhdao.net) – Vào một ngày giá rét đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đi một lá thư. Người nhận thư là một bác sĩ. Trong lá thư, Chủ tịch nước đã trân trọng gọi người bác sĩ đó là… “ngài”. Hai năm sau, khi bác sĩ đó trở thành Bộ trưởng, Người gửi thêm một lá thư nữa để nhờ qua “cụ” chuyển một tháng lương và vô vàn tình thương tới anh em thương binh, gia đình tử sĩ.

Theo những gì mà báo chí và các tư liệu còn ghi lại, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát lệnh toàn quốc kháng chiến vài hôm, vào 8 giờ tối một ngày tháng Chạp năm 1946, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã phải mổ và cưa gắp đạn, khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ vệ quốc quân từ khắp các mặt trận ở cả nội và ngoại thành chuyển về.

Nhưng có một ca mổ đã khiến thần kinh của ông “căng lên một cách kinh khủng… Đó là ca mổ cho một chiến sĩ tự vệ thành Hà Nội – một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ. Anh bị thương do một đường đạn từ sau lưng, “phá ra phía trước, bể bụng ruột gan rối bời lòi ra”.

“Tuy vết thương nặng đau xé tung cả ruột” mà miệng anh vẫn mỉm cười.

“Các y sĩ hộ lý khuyên bác sĩ tạm nghỉ tay, nhưng bác sĩ vẫn kiên quyết mổ khám ruột cho người chiến sĩ trẻ này. Với nụ cười thân thương rất quen thuộc, bác sĩ đã nhận ra chiếc rǎng khểnh nhỏ của Vũ Vǎn Thành – đứa con út của ông.

Trong lúc cấp bách ấy, nếu không nhanh chóng khâu lại vết thương thì không kịp, bác sĩ cố nghiến rǎng, kìm mình để giữ bình tĩnh, gắp mảnh đạn cuối cùng trên thân thể chiến sĩ Thành. Xong ông choáng váng rời khỏi bàn mổ.

Bệnh viện cố gắng rất nhiều, nhưng vết thương do giặc Pháp gây ra quá nặng, chúng đã cướp mất anh Thành, đứa con thứ 2 yêu quý của gia đình bác sĩ Tụng. Anh của Thành là Vũ Đình Tín cũng đã hy sinh sau ngày tổng khởi nghĩa…”

Bức thư huyết lệ và nbc3a1c-he1bb93-tre1bb93ng-cc3a2yỗi đau chung

Sau đêm Noel 1946, bệnh viện Bạch Mai bị pháo giặc tàn phá, phải di chuyển ra ngoại thành. Vào một chiều mưa phùn gió bấc, khi bác sĩ Tụng mổ xong cho một ca thương binh nhẹ, bác sĩ Trần Duy Hưng – lúc bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đến thǎm bệnh viện và trực tiếp đưa bức thư ngắn ngủi của Hồ Chủ tịch.

“Tôi ngỡ đây là một mệnh lệnh mới của Chính phủ, nhưng thật không ngờ, đây lại là một thư riêng của Người, hỏi thǎm gia đình bé nhỏ của tôi” – bác sĩ Tụng xúc động nói.

Trong những lá thư gửi cho đồng bào, Bác Hồ thường kính cẩn dùng từ “cụ” để gọi người lớn tuổi hơn, hoặc “cô” nếu còn trẻ. Nhưng trong lá thư đặc biệt này, Chủ tịch đã gọi bác sĩ Tụng là “ngài”. Cho tới 15 năm sau, bác sĩ Tụng vẫn thuộc lòng nội dung.

Gửi bác sĩ Vũ Ðình Tụng,
Thưa ngài,

Tôi được báo cáo rằng: Con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ Quốc.Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ Quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.Họ là con thảo của Ðức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ Quốc. Những thanh niên đó là dân tộc anh hùng. Ðồng bào và Tổ Quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ Quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn ngài, và gửi ngài lời chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 1 năm 1947
Hồ Chí Minh

“Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác.

Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác Hồ đối với cả dân tộc. Tôi tự nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đang với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh Xã hội của nước Việt Nam mới”.73905-1

– Theo lời kể của bác sĩ Vũ Đình Tụng – Lê Thân ghi (Báo Nghệ An, tháng 9/1994)

Chủ tịch Nước xung phong gửi quà qua Bộ trưởng

Sau này, cứ mỗi năm đến ngày 27/7 – ngày Thương binh liệt sĩ, Bác Hồ lại gửi thư thăm hỏi anh em thương bệnh binh.

Năm 1949, Người lại gửi thêm một lá thứ riêng nữa tới bác sĩ Vũ Đình Tụng, lúc này đã là Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh. Mặc dù Chủ tịch nước còn hơn cả Bộ trưởng Tụng 5 tuổi, nhưng Người vẫn kính trọng gọi Bộ trưởng bằng “cụ”.

“Thưa cụ!

Mỗi năm đến 27 tháng 7 là ngày Thương binh tử sĩ, nhân dân có dịp tỏ lòng biết ơn những chiến sĩ đã hy sinh xương máu cho Tổ Quốc, cho đồng bào.Hôm đó, Bộ không tổ chức lạc quyên. Nhưng Bộ vẫn trông mong và hoan nghênh đồng bào tùy hoàn cảnh mà gửi thư, tặng quà hoặc quyên giúp.Vậy tôi xin xung phong:
– Tặng một số khăn mặt và áo quần mà đồng bào các nơi đã biếu tôi.
– Gửi một tháng lương của tôi là: 1.000 đồng.
– Và nhờ cụ chuyển lời thân ái của tôi an ủi anh em thương binh cùng các gia đình tử sĩ.Chào thân ái và quyết thắng

Hồ Chí Minh
(Báo Cứu quốc, số 1305, Ngày 27/7/1949)

Bộ trưởng Vũ Đình Tụng là ai?

Cụ Vũ Ðình Tụng sinh ngày 25/6/1895 tại vùng Vụ Bản, Nam Định. Cụ là một trí thức công giáo yêu nước, có cảm tình với cách mạng và giàu lòng nhân ái.

Cụ là một trong những bác sĩ đầu ngành về ngoại khoa của y học Việt Nam. Năm 1947, cụ đảm nhận chức vụ Bộ trưởng Bộ Thương binh – Cựu binh (từ 19/7/1947-tháng 4/1959). Trước đó, bác sĩ Tụng từng giữ trách nhiệm Giám đốc Nha Y tế Bắc bộ.bac-ho-anh-mau-giaoduc.net.vn (38)

Tháng 3/1954, GS. Tôn Thất Tùng được Hồ Chủ tịch cử vào phái đoàn Chính phủ thăm chiến trường và trực tiếp làm công tác thương binh tại mặt trận Điện Biên Phủ. Bệnh viện đã cử một đội phẫu thuật của bệnh viện đến làm việc ở tuyến quân y cao nhất, trực tiếp mổ các thương binh nặng, chữa bệnh cho bộ đội và dân công tại mặt trận. Sự có mặt của giáo sư Tôn Thất Tùng, bác sĩ Vũ Đình Tụng góp phần động viên bộ đội anh dũng chiến đấu, thương binh an tâm, tin tưởng điều trị.

“Vào cuối năm 1956 khi thành lập một đoàn đại biểu Việt Nam qua thăm Tiệp Khắc và dự Hội nghị Quốc tế hoà bình tổ chức ở Praha, cụ Tụng được cử làm Trưởng đoàn. Trước ngày lên đường, cụ Tụng đã dẫn cả đoàn lên Phủ Chủ tịch chào Bác. Lúc chia tay, Bác đã cầm tay cụ Tụng mà lưu luyến mãi không rời. Nào ai rõ hôm ấy hai cụ đã nói với nhau những gì, Bác đã dặn dò cụ Tụng những gì, chỉ biết đó là cuộc chia tay của những người ruột thịt đồng chí, của những bậc chí giả.

Cụ Tụng sinh năm 1895, kém Bác năm tuổi, mất năm 1973, trước khi mất vài năm cụ còn được cử kiêm nhiệm thêm nhiều cương vị quan trọng khác ở Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ở Ban Liên lạc Toàn quốc những người công giáo Việt Nam, ở Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam” – “Tản mạn trước đêm” – Đỗ Chu.

Hòa bình lập lại, Bác Hồ và Chính phủ đã tin tưởng giao cho cụ tiếp tục chỉ đạo công tác thương binh liệt sĩ sau chiến tranh. Đặc biệt trong đợt ra quân lớn sau năm 1958, cụ Vũ Ðình Tụng chuyển sang chuyên trách là Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

Từng là Giám đốc Nha y tế Bắc Bộ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Liên lạc toàn quốc những người công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, cụ đã được tặng thưởng Huân chương Ðộc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác. Cụ là vị Bộ trưởng được Bác Hồ luôn tin tưởng, quý trọng.

Cụ mất vào trung tuần tháng 4/1973, thọ 78 tuổi.

images