Suy thoái, phải biết la oai oái

Posted on 26/05/2013

0


68_29_1332554885_46_dvdd2kyn

…gặp suy thoái mà không thấy oải, chỉ có thể là người nghèo. Cụ thể hơn, phải là người nghèo ở Việt Nam.

…“theo các chuyên gia kinh tế thì lạm phát cũng như suy thoái kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nghèo”.

“Tôi thấy Bộ trưởng còn hiền quá”

ĐBQH Trần Hoàng Ngân “các vị bộ trưởng, thứ trưởng các ngành đang có khó khăn khác như xây dựng chẳng hạn, họ có rất nhiều hội thảo, hội nghị và đưa ra nhiều yêu cầu kiến nghị. Ngành nông nghiệp, nông dân vô cùng khó khăn nhưng tiếng nói của ngành còn quá nhẹ”.

Suy thoái, mà không được oải

– Bảo Bảo –

(Tuanvietnam) Xin thưa, phải nói ngay gặp suy thoái mà không thấy oải, chỉ có thể là người nghèo. Cụ thể hơn, phải là người nghèo ở Việt Nam.

Thật vậy, theo như tường trình tại Ủy ban TVQH tuần trước thì tỷ lệ thuận với tất cả các chỉ số vĩ mô đều giảm sút, tỷ lệ nghèo cũng được công bố giảm theo.

Cụ thể, chỉ tiêu tỷ lệ hộ nghèo giảm được quyết định cho năm vừa qua là 2%, số thực hiện cả năm là 2,16%. Đặc biệt, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo đã giảm tới 7%. Những con số vượt mức kế hoạch.

Dựa trên các số liệu sống động này và “theo các chuyên gia kinh tế thì lạm phát cũng như suy thoái kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nghèo”.

Thoạt nghe, có cảm giác rằng nhận định như trên có phần nghịch lý, và tất nhiên, với nhiều người thì có hiệu ứng nghịch nhĩ. Nhưng nếu xem kỹ các yếu tố xung quanh suy thoái và người nghèo thì góc nhìn tưởng chừng mới mẻ này cũng dựa trên những quan sát nhất định. Ví dụ, dù là lạm phát hay suy thoái, bát phở sáng có lẽ vẫn là giấc mơ khó với của nhóm thu nhập thấp (*).

Lợi ích “quy ra thóc”

imagesKhoảng 60% dân số Việt Nam vẫn sống ở khu vực nông thôn, cũng là nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất. Ví dụ theo chuẩn nghèo mới áp dụng trong giai đoạn 2011-2015, quán quân nghèo thuộc về Tây Bắc với 35,36%, tiếp theo là khu vực Đông Bắc 25,95%; Tây Nguyên 19,64%; các vùng đồng bằng thì thấp hơn. Ước chừng 3,3 triệu hộ nghèo và 1,5 triệu hộ cận nghèo, tương đương gần 20 triệu người (tạm nhân trung bình hộ 4 ngươi) có cuộc sống bấp bênh với thu nhập cỡ 15 nghìn đồng/ ngày.

Trước giai đoạn tăng trưởng sôi động của nền kinh tế, chuẩn nghèo đô thị là 260 nghìn đồng/ngày, còn chuẩn nghèo nông thôn là 200 nghìn đồng/ngày. Với mức lạm phát vài chục phần trăm trước năm 2011, tin mừng là  chuẩn nghèo đã buộc phải thay đổi gấp đôi. Tuy gấp đôi, nhưng số tiền người nghèo “kiếm” được theo chỉ tiêu mới chỉ là 240,000 đồng (ở đô thi). Lấy hẳn mức tối đa này nhân với 3,3 triệu hộ nghèo toàn quốc thì tổng số tiền hàng năm các hộ nghèo hưởng lợi (về lý thuyết) cũng chỉ tầm chục nghìn tỷ, ngang ngửa thu nhập của một “hộ giàu” trên sàn chứng khoán.

Số tiền “thu nhập” tăng thêm theo chuẩn nghèo, nếu so sánh với chi phí sinh hoạt gia tăng theo lạm phát, thật khó đánh giá. Đó là chưa nói tới chi phí nếu phải bỏ ra cho nhu cầu an cư của nhóm thu nhập thấp, vốn vẫn là “nhiệm vụ bất khả thi” trong cả thời lạm phát lẫn suy thoái.

Thật tình cờ, cùng trong tuần, có một tin DSC05614.apng~1đáng chú ý vì được mong chờ trong suốt thời gian dài. Đó là việc ban hành Thông tư 11 quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội theo Nghị quyết 02 của Chính phủ, qua đó gói tín dụng 30.000 tỷ đồng được chính thức tung ra thị trường. Theo đó, 70% sẽ dành cho người mua nhà thuộc diện hỗ trợ nhà ở xã hội. Tuy nhiên, khi nhìn kỹ vào phương án thanh toán, nhiều chuyên gia bất động sản cho rằng thực chất gói tín dụng này dành cho người có thu nhập khá, trung lưu chứ người nghèo, thu nhập thấp khó lòng mua nổi. Ví dụ, một căn hộ diện tích từ 45 – 70 m², giá 15 triệu đồng/m² sẽ có tổng giá từ 675 triệu đồng đến hơn 1 tỉ đồng. Một hộ gia đình phải có thu nhập từ 15 triệu đồng/tháng trở lên mới trả nổi gốc và lãi cho căn hộ đó. Với căn hộ 25 – 30 m², giá bán từ 450 triệu đồng/căn, muốn mua được theo gói hỗ trợ thì người thu nhập thấp cần có trước 200 triệu đồng và vay thêm 250 triệu đồng. Chỉ cần nhân thử thu nhập hộ nghèo 500 nghìn đồng/tháng ở thành thị thì đã có thể thấy hàng triệu hộ không có khả năng thanh toán, dù biển hiệu của gói hỗ trợ là hướng về người nghèo đi chăng nữa.

Người nghèo cũng không khóc

Người nghèo thì không bao giờ phải nộp thuế, hẳn đó là một lợi ích mà nhóm trung lưu và thu nhập cao sẽ có phần ngõm ngọ. Thậm chí Luật thuế thu nhập cá nhân còn đặt nhóm lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp và thủy hải sản ra ngoài phạm vi nộp thuế thu nhập cá nhân. Những người này dễ có những đặc điểm để nằm trong nhóm nghèo.

Người nghèo cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi những cơn nóng lạnh thất thường của thị trường chứng khoán, vàng và ngoại tệ. Năm 2011 và đặc biệt là trận bão năm Thìn 2012 đã quét đi khá nhiều đại gia trda5eeong lĩnh vực bất động sản, ngân hàng và chứng khoán. Cái mất của giới nhà giàu và trung lưu về mặt giá trị vật chất chắc hẳn sẽ lớn hơn nhiều so với nhóm thu nhập dưới 1 USD/ngày. Không ngạc nhiên khi nhiều người liên tưởng gói hỗ trợ thị trường bất động sản vừa qua với nỗi đau mất mát của nhóm giàu nhờ thị trường này, một nỗi đau đủ tạo động lực để gây ảnh hưởng bằng được tới những chính sách hỗ trợ.

Thêm một đặc điểm nữa của người nghèo, họ không biết hoặc không có đủ thông tin để lên tiếng cho vị thế của mình. Ví dụ, khi một số vụ việc bị đưa ra ánh sáng, làm tình hình tài chính tiêu cực, các hãng đóng tàu hàng đầu đất nước vẫn có thể đổ lỗi cho sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Cứ như thể các hợp đồng đóng tàu bị đổ bể mới là nguyên nhân chính khiến con tàu khổng lồ cỡ Vinashin phải suy sụp. Tương tự, ngay khi bất động sản trầm lắng, những phân tích về việc hỗ trợ ngành này tỏ ra sôi nổi hơn nhiều so với nhu cầu tương tự dành cho ngành trồng trọt hay chăn nuôi hiện đang làm nhẵn túi nhiều nông dân chân lấm tay bùn.

Nhóm nghèo cũng khó mà biết phân tích về những cơ sở thiếu hợp lý của các loại thuế phí đang đưa Việt Nam ngang hàng với nhiều nước giàu trên thế giới, ví dụ như các loại thuế phí áp dụng trên các phương tiện giao thông vận tải. Còn khó hơn nữa để người nghèo nhận thức được nhứng tác động gián tiếp tới cuộc sống của họ như giá xăng dầu, tiền lãi của nợ công, hay giá xây dựng đường cao tốc đắt đỏ vượt cả Mỹ và Trung Quốc. Những khoản chi tiêu đắt đỏ đó, một khi đã bị ngốn thì ắt sẽ “đốn” mất một phần không nhỏ trong ngân sách dành cho hỗ trợ xóa đói giảm nghèo.

Cũng xét trên góc độ thống kê, đaada5523b-a172-46b5-90fc-1ac5f6095390 số các báo cáo về kinh tế-xã hội thường chỉ đề cập tới tình trạng khó khăn, đổ vỡ, phá sản của hàng trăm nghìn doanh nghiệp chứ ít nơi nào đủ sức và đủ kiên nhẫn để thống kê số lao động mất việc. Thu nhập bị mất của người lao động có thể ảnh hưởng tới cuộc sống của họ và gia đình nhỏ đang vật vờ ở thành phố, hay gia đình lớn đang mong ngóng họ chốn quê nhà, cũng rất khó để có thể được chỉ ra.

Trong khi người lao động ở châu Âu đang la oai oái về suy thoái ngay trên đường phố, nhóm thu nhập thấp ở Việt Nam chỉ có thể trông chờ các con số thống kê về bản thân mình từ nhiều cơ quan mà có lẽ người báo cáo lên các con số đó lại không phải là người cùng nhóm với họ.

Một vấn đề khá liên quan tới tình trạng của người nghèo cần để ý là số lượng và loại hành vi của tội phạm, như phản ánh của báo chí gần đây về các hiện tượng cướp giật, trộm cắp, lừa đảo đáng báo động. Tất nhiên, chuyện chỉ ra mối liên hệ giữa khó khăn trong sinh kế với khái niệm “bần cùng sinh đạo tặc” là một điều không hề dễ dàng. Nhưng một khi triền miên sống bằng mức thu nhập ở đáy xã hội, không được bảo đảm về an sinh, thì cũng có thể một nhóm người nào đó sẽ có những lý do của mình để tham gia vào lực lượng những anh Chí vì thiếu cháo hành mà đành cất giọng “ai cho tôi làm người lương thiện”.

(*) Xem thêm: Sáu năm WTO và giấc mơ ba bát phở

3_26_1350012604_27_1349951141-bui-cuong-5

29.05.2013

Đọc thêm: “Suy thoái kinh tế tấn công người nghèo nặng nhất”

-TS. Trần Vinh Dự-

“Theo các chuyên gia kinh tế thì lạm phát cũng như suy thoái kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nghèo” – đó là phát biểu của Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội (LĐTBXH) Nguyễn Thanh Hòa tại phiên họp chiều 14/5 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH).
Phiên họp này của UBTVQH đặt trọng tâm vào việc xem xét báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế xã hội năm 2012 và 4 tháng đầu năm 2013. Theo báo cáo của Chính phủ, so với ước thực hiện đã báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 4 vào cuối năm 2012, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2012 có thêm một chỉ tiêu hoàn thành vượt mức là mức giảm tỷ lệ hộ nghèo.
Cụ thể, chỉ tiêu tỷ lệ hộ nghèo giảm được quyết định cho năm vừa qua là 2%, số báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 4 là 1,76% và số thực hiện cả năm là 2,16%. Đặc biệt là tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo đã giảm 7% (số đã báo cáo Quốc hội là 4%). Như vậy, nếu như theo số liệu hồi cuối năm 2012 thì chỉ tiêu giảm nghèo không đạt, nhưng số liệu được công bố trong báo cáo mới của chính phủ là 2,16% thì lại cao hơn chỉ tiêu đề ra là 2%. Nói cách khác việc giảm nghèo đã được thực hiện tốt hơn mục tiêu đề ra cho năm 2012.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế đang ngày càng diễn biến xấu đi, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình sản xuất trong nông thôn được đánh giá là còn chậm, hiệu quả thấp, chưa thực sự tạo được sự chuyển biến trong đời sống của người dân nông thôn, thì kết quả giảm nghèo ngoạn mục mà Chính phủ báo cáo có vẻ như mâu thuẫn.
Theo Thứ trưởng Hòa thì những năm qua ngân sách gặp khó khăn nhưng nhìn chung các dự án, chương trình mục tiêu giảm nghèo đều được quan tâm bố trí kinh phí tương đối đảm bảo theo yêu cầu. Bên cạnh đó là các chính sách trợ giúp người nghèo mấy năm vừa qua đến thời điểm gần đây đã phát huy nhiều tác dụng hơn. Ông cũng cho rằng mặc dù có khó khăn về kinh tế nhưng “theo các chuyên gia kinh tế thì lạm phát cũng như suy thoái kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nghèo”.
Số liệu và cách tính
Làm thế nào để xác định hộ nghèo và hộ không nghèo? Theo quyết định 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì chuẩn để xác định hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống ở các vùng nông thôn, từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống ở các vùng thành thị.
Tiêu chí là vậy, nhưng làm thế nào để xác định được thu nhập bình quân đầu người của một hộ gia đình là bao nhiêu? Khác với các nước phát triển, nơi câu chuyện thu nhập tương đối minh bạch, Việt Nam là nơi việc xác định mức thu nhập cực kỳ khó khăn. Theo hướng dẫn của Bộ LĐTBXH (văn bản số 3461/LĐ-TBXH), phương pháp xác định hộ nghèo ở Việt Nam kết hợp phương pháp “nhận dạng nhanh” và phương pháp “đánh giá có sự tham gia của người dân”.
Thế nào là nhận dạng nhanh? Điều tra viên sẽ quan sát và tự quyết định hộ nào có thể được xếp vào hộ nghèo. Điều tra viên sẽ xem xét tình trạng tài sản của hộ gia đình thông qua số lượng và chấm điểm tài sản. Nếu có số điểm lớn hơn hoặc bằng số điểm quy định, thuộc diện hộ không nghèo, thì không cần điều tra thu nhập. Nếu tài sản hộ gia đình có số điểm nhỏ hơn điểm quy định thì điều tra viên mới tiến hành điều tra thu nhập của hộ gia đình để xem có thực sự nghèo thật hay không.
Thế nào là “đánh giá có sự tham gia của người dân”? Cũng theo hướng dẫn tại văn bản số 3461/LĐ-TBXH thì việc xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo phải có sự tham gia đánh giá, bình xét của người dân tại một hội nghị bình xét tổ chức ở thôn/ấp, tổ dân cư. Những hội nghị như vậy phải có trên 50% đại diện hộ gia đình tham dự. Hội nghị sẽ lấy ý kiến biểu quyết đối với từng hộ. Kết quả biểu quyết phải có trên 50% số người tham dự đồng ý mới đưa vào danh sách hộ nghèo.
Khi các địa phương tổ chức điều tra và bình chọn hộ nghèo, không có sự giám sát độc lập của cơ quan tổ chức nào của trung ương hoặc của các tổ chức phi chính phủ. Các địa phương sẽ được coi là có thành tích tốt nếu giảm được nhiều số hộ nghèo hơn so với chỉ tiêu được đặt ra. Vì thế, dễ hiểu là bệnh chạy theo thành tích là việc khó tránh khỏi. Đó là chưa kể nhiều khi xảy ra trường hợp đúng là nghèo nhưng không được đưa vào danh sách nghèo, và không nghèo nhưng vẫn được đưa vào danh sách nghèo để được hưởng các ưu đãi từ chính sách.
Các cơ quan trung ương như Bộ LĐTBXH phải dựa vào các báo cáo từ địa phương. Như giải thích của Thứ trưởng Hòa trước Hội nghị của UBTVQH  là “tỷ lệ hộ nghèo được báo cáo từ địa phương lên”. Việc báo cáo một chiều này tất nhiên sẽ dẫn tới sự lúng túng của trung ương khi gặp phải tình trạng kinh tế thì đang đi xuống mà người nghèo lại giàu có lên.
Khủng hoảng kinh tế và người nghèo
Khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến đối tượng dân cư nào nhất? Về con số tuyệt đối (tức là số thu nhập bị mất đi) thì các chủ doanh nghiệp, những người làm ăn lớn, là những người bị mất nhiều tiền nhất. Một ngày thị trường chứng khoán sụp đổ có thể kéo theo giá trị tài sản của một tỷ phú USD của Mỹ bốc hơi đến con số hàng tỷ USD, giống như trường hợp của Warren Buffett hay Carl Icahn trong giai đoạn cuối năm 2008 đầu năm 2009. Không có người nghèo nào có số tiền lớn như vậy để mất. Về mặt tương đối, người lao động nghèo thường mất nhiều hơn. Lý do là người lao động nghèo thường chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất là tiền lương/tiền công lao động. Khủng hoảng kinh tế bao giờ cũng kéo theo việc sa thải lao động. Những người mất việc làm sẽ là những người mất đi nguồn sống duy nhất của mình và gia đình là tiền lương và sẽ bị đẩy vào hoàn cảnh nguy hiểm sống còn.
Nguồn: GSO và các nghị định của Chính phủ về lương tối thiểu
Đương nhiên có những bộ phận công chúng không bị ảnh hưởng nhiều do tình trạng mất công ăn việc làm. Đó là những người không bị sa thải, những người không có việc làm từ khi trước khi khủng hoảng nổ ra, hoặc những người sống tự cấp tự túc. Rõ ràng, ở Việt Nam có các bộ phận dân cư vùng sâu vùng xa, nơi mà cuộc sống của họ chủ yếu tự cấp tự túc (thí dụ những người du canh du cư) và không có sự xuất hiện đáng kể của tiền đồng trong đời sống của họ. Đối với những người này, không phải khủng hoảng kinh tế, mà là các suy thoái về môi trường, mới là mối nguy đối với họ.
Trong trường hợp của Việt Nam, cơn khủng hoảng hiện nay không chỉ liên quan đến công ăn việc làm mà còn liên quan đến sức mua của đồng tiền. Lạm phát chính là sát thủ vô hình và là mối nguy khủng khiếp đối với người thu nhập thấp. Lấy thí dụ trường hợp những người nhận lương tối thiểu (và không mất việc làm). Nếu lấy mức lương của năm 2000 làm mốc (chỉ số =100), thì nằm 2006 lương của họ sau khi đã điều chỉnh mức độ trượt giá của đồng tiền bằng 185,3 – cao gần gấp đôi sau 06 năm. Thế nhưng từ năm 2006 trở lại đây thì họ hầu như không được hưởng lợi gì từ sự tăng trưởng GDP do tốc độ trượt giá cao hơn tốc độ tăng lương trong nhiều năm. Có năm thu nhập thực tế của họ còn giảm, thí dụ năm 2007 và 2008 đều giảm liên tục so với mức của năm 2006. Đến năm 2009, lương tối thiểu được tăng lên đáng kể và làm cho thu nhập thực tế của họ quay lại mức cao hơn năm 2006 một chút nhưng sau đó lại tụt đi vào năm 2011. Đến năm 2012, lương tối thiểu danh nghĩa được tăng lên và làm cho thu nhập thực tế của họ quay lại mức năm 2006 với một chút tăng nhẹ không đáng kể.
Nhưng đó mới chỉ là bề nổi của tảng băng. Người nghèo bị ảnh hưởng nhiều hơn so với người giàu khi CPI tăng vì phần lớn, nếu không phải là tất cả, thu nhập của người nghèo là dùng để tiêu dùng hàng ngày. Người nghèo là những người không có tài sản đáng kể. Thu nhập của họ là để phục vụ tiêu dùng hàng ngày. Còn CPI, hay là chỉ số giá tiêu dùng, vẫn được dùng làm thước đo lạm phát.
Điều đó có nghĩa gì? Thí dụ một người giàu có 100 đồng, trong đó chỉ dùng 10 đồng để tiêu dùng, còn lại 90 đồng là để mua tài sản khác. Một người nghèo khác thu nhập 5 đồng và dùng cả 5 đồng để tiêu dùng. Trong nhiều giai đoạn, giá các tài sản khác không tăng bằng giá hàng tiêu dùng, thậm chí còn giảm đi tuyệt đối. Điển hình là trong giai đoạn vừa qua giá bất động sản hầu như không tăng (khi tính bằng VND) trong khi CPI tăng mạnh.
Người nghèo phải dùng hết thu nhập của mình cho hàng tiêu dùng, vì thế họ là người “chịu trận” nhiều nhất từ cơn bão CPI. Trong khi đó, người giàu chỉ dùng một phần thu nhập của mình cho hàng tiêu dùng, còn lại có thể mua sắm các tài sản không bị ảnh hưởng (nhiều) của việc tăng CPI. Nói cách khác, người giàu bị ảnh hưởng ít hơn từ cơn bão CPI.
Người nghèo cần được bảo vệ trong khủng hoảng
Vì lẽ trên, người nghèo là những người dễ bị tổn thương nhất từ khủng hoảng kinh tế và lạm phát. Đó là lý do các chính phủ cần phải có các chính sách hỗ trợ người nghèo để họ trụ vững trong các cơn bão này, thí dụ chính sách về phát không tem lương thực, trợ cấp thất nghiệp, các chương trình tạo công ăn việc làm… Việt Nam cũng đang hoàn thiện dần các chính sách hỗ trợ người thu nhập thấp, bao gồm cả chính sách về trợ cấp thất nghiệp, tạo công ăn việc làm, và sắp tới đây là hỗ trợ mua nhà.
Đây là những sự thật hiển nhiên. Không có chuyện các chuyên gia kinh tế cho rằng lạm phát cũng như suy thoái kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nghèo như lời Thứ trưởng Nguyễn Thanh Hòa khẳng định tại hội nghị UBTVQH vừa qua. Phát biểu này của Thứ trưởng Hòa không có cơ sở lý thuyết và càng không có cơ sở thực tiễn. Nó cũng khoác lên vai của những người được coi là chuyên gia kinh tế một oan án mà họ không bao giờ làm. Vì thế điều này cần phải được cải chính lại.