Giấc mơ: Toà sợ kiến đốt hay Toà thích chén Khoai?

Posted on 07/08/2014

0



Một chuyện nghe chừng không liên quan lắm tới vụ kiện Biển Đông: Sau khi được gia nhập WTO (2006), VN chưa được công nhận là nước có thể chế kinh tế thị trường đầy đủ cho tới năm 2018. Tuỳ vào nỗ lực cố gắng của VN, việc công nhận là nước có nền kinh tế thị trường có thể đến sớm hơn, trong khoảng thời gian 12 năm kia. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia về thương mại quốc tế nhận định một cách “in-phom-mồm” (informal) rằng chừng nào TQ còn chưa được công nhận là thành viên có nền kinh tế thị trường đầy đủ thì nước láng giềng phía nam của họ cũng khó có cơ hội được những đối tác thương mại vừa béo bở (về lợi ích) vừa xương xẩu (về điều kiện) chấp thuận. Không giống 1 gia đình có Thuý Kiều và Thuý Vân, chuyện “còi to cho vượt” khó áp dụng trong trường hợp này.


Có lẽ, không ít lĩnh vực tưởng chừng rất kỹ thuật lại bị chi phối bởi nhiều điều “tế nhị”…

Liên quan:

Liệu VN có đang đi đúng hướng chuẩn bị tài liệu và lập luận cho một vụ kiện TQ về vấn đề BĐ-HS-TS?

Giang Le

Mấy hôm trước nhà văn Phạm Thị Hoài đặt câu hỏi: “Bao nhiêu bản đồ thì đủ?” Câu hỏi này không chỉ liên quan đến một quyển sách về bản đồ cổ được xuất bản gần đây với đầy lỗi mà còn đụng chạm đến một vấn đề khác quan trọng hơn nhiều: liệu VN có đang đi đúng hướng chuẩn bị tài liệu và lập luận cho một vụ kiện TQ về vấn đề BĐ-HS-TS?

Nhiều người Việt (trước đây tôi cũng vậy) rất hồ hởi khi ai đó tìm ra được một bản đồ cổ thể hiện HS-TS là của VN. Tôi có cảm giác giới chuyên gia Việt hầu như chỉ tâp trung vào lĩnh vực này, sưu tầm bản đồ, tài liệu cổ để chứng minh chủ quyền của mình trên HS-TS trong giai đoạn trước thế kỷ 20. Giới luật gia quốc tế gọi cách tiếp cận này là sử dụng “historical title”.

Như tôi đã giải thích trước đây UNCLOS không chấp nhận khái niệm “historical title” (trừ một số trường hợp rất hãn hữu) bởi vậy hướng đi này chủ yếu nhắm đến việc kiện đòi lại chủ quyền HS-TS chứ không phải tranh chấp ranh giới biển với TQ. Tuy nhiên áp dụng historical title trong tranh chấp chủ quyền HS-TS cũng có những hạn chế mà bài báo dưới đây chỉ ra.

Thứ nhất, nói gì thì nói luật pháp quốc tế về cơ bản dựa trên nền tảng luật phương Tây nên những bằng chứng, lập luận về “historical title” theo truyền thống phương Đông (của cả VN lẫn TQ) đều có thể không phù hợp. Có học giả quốc tế cho rằng thậm chí khái niệm quốc gia và chủ quyền (nhất là chủ quyền trên các hòn đảo xa bờ) ở châu Á trước khi người da trắng đến rất mơ hồ và không phù hợp với những khái niệm hiện đại. Bởi vậy những bản đồ, chiếu chỉ, gia phả cổ có thể không có nhiều giá trị như chúng ta vẫn tưởng.

Thứ hai, ngay cả nếu “historical title” của VN được chứng minh và thừa nhận, để đảm bảo chủ quyền không bị mất VN phải chứng minh được đã thực thi chủ quyền trên HS-TS một cách liên tục và hiệu quả. Việc cử hải đội ra khai thác trên các hòn đảo này không chắc đã đủ để chứng mình việc thực thi chủ quyền dưới mắt một trọng tài/quan tòa phương Tây. Trên thực tế một số học giả quốc tế cho rằng cả VN và TQ đã không thực thi chủ quyền đầy đủ cho đến đầu thế kỷ 20.

Hai tác giả của bài báo dưới đây (và không chỉ có họ) khẳng định cột mốc để đánh giá việc VN hay TQ có chủ quyền trên HS-TS là năm 1951 khi tại hội nghị San Francisco Nhật từ bỏ quyền chiếm đóng tất cả các đảo trên Biển Đông. Nếu đây trở thành quan điểm chính thống của tòa thì như nhà văn Phạm Thị Hoài nói tất cả các bản đồ cổ chỉ còn giá trị nghiên cứu. Như vậy nỗ lực của các chuyên gia VN phải là đi thu thập các tài liệu chứng minh chủ quyền từ sau năm 1951 (hoặc cùng lắm từ đầu thế kỷ 20) chứ không phải chỉ nhăm nhăm đi tìm bản đồ, chứng chỉ trong thế kỷ 18-19.

Cuối cùng, VN phải chấp nhận một sự thật là TQ đang chiếm đóng HS và một số đảo ở TS. Việc kiện tụng đòi lại chủ quyền trên 2 quần đảo này sẽ rất khó khăn và lâu dài trong khi TQ đang càng ngày càng có các hoạt động bành trướng (eg. giàn khoan, tàu cá). Bởi vậy VN phải ưu tiên cho một vụ kiện theo UNCLOS để hạn chế các hoạt động bành trướng của TQ trên biển chứ không nên quá tốn thời gian và công sức cho vấn đề chủ quyền HS-TS. Nếu vậy những bằng chứng cho thấy đảo Triton không support được sự sống nên không có EEZ quan trọng hơn nhiều một bản đồ cổ chứng minh hòn đảo đó là của VN.

03-08-2014

INTERNATIONAL LAW AND PRACTICE

The Roots of Historic Title: Non-Western Pre-Colonial Normative Systems and Legal Resolution of Territorial Disputes

JAMES D. FRY and MELISSA H. LOJA *

Abstract

The validity of historic or ancient title to territory has been tested in numerous international judicial proceedings, both in the International Court of Justice and in international arbitration. Historic title usually originates in ancient normative systems, including tributary, feudal, sultanate, and Islamic systems that predate the Western international legal system. Nevertheless, the rules against which historic title has been tested in international judicial proceedings generally require that the original titleholder be a state or a central authority that exercised territorial sovereignty over a defined space to the exclusion of other sovereign powers. The rules that apply specifically to these ancient normative systems, where allegiance to authority was personal or religious rather than territorial, have been seen as irrelevant compared to the more contemporary determinations of historic title. The only exceptions have been the French medieval customary norm frankalmoign, which the international arbitral tribunal in the Minquiers and Ecrehos case cited as evidence that the English king exercised territorial sovereignty over the disputed islands, and the personal allegiance of the Orang Laut to the Sultan of Johore, coupled with the recognition accorded to the latter by the great maritime powers, which the International Court of Justice in Malaysia v. Singapore found sufficient to prove the historic title of Malaysia over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh and Middle Rocks. The principles by which historic title were adjudicated in these cases appear to be the same principles by which the Western powers dealt with the claims of the People’s Republic of China and Vietnam to the Paracel Islands and the Spratly Islands, not only during the colonial period but also after the Second World War. This analysis suggests how the International Court of Justice or an international arbitral tribunal might, if given the opportunity, resolve these South China Sea disputes. Readers might also find this analysis to be particularly relevant to other disputes involving historic title, including the East China Sea disputes, although the focus of this article is on the South China Sea disputes. States and other commentators are left to rely on their own preferences and allegiances in reaching their own normative conclusions using the novel analysis provided by this article.

* James Fry is Assistant Professor of Law and Director of the LLM Programme at the University of Hong Kong Faculty of Law [jamesfry@hku.hk]. Melissa H. Loja is PhD candidate and Research Assistant at the University of Hong Kong Faculty of Law.

Advertisements