“Bốn chấm không” có đả thông việc ai là người chuyên pha nước chấm?

Posted on 17/09/2018

0



Hay khảo luận ngắn về Bình đẳng Giới trong thời đại 4.0 

Bài đầy đủ đã được đăng (chia làm 5-6 kỳ) trên trang thông tin của mạng Zalo (mà đáng tiếc là tác giả không cài App này trên máy nên không có link). Thấy bảo được vinh dự đăng một loạt mở đầu tháng 10, “tháng Phụ Nữ” (viết hoa).

 – Bảo Bảo –

Liên quan:

Trong bài có bàn về:

  • Bất bình đẳng thu nhập
  • Giới và Bất bình đẳng trong quan hệ
  • Có bao nhiêu sự bất bình đẳng có thể đổ lỗi cho tự nhiên
  • Viễn cảnh bình đẳng trong thời đại 4.0 (Viễn cảnh ấy, biết đâu sẽ là sự lãng mạn của thế kỷ 22?)

Chắc hẳn ai trong chúng ra cũng từng xem, hoặc chí ít là đã từng nghe về bộ phim bất hủ “Cuốn theo chiều gió”, một bộ phim kinh điển với hai nhân vật nam – nữ đáng nhớ vào bậc nhất lịch sử điện ảnh. Tới nỗi cứ nhắc đến Rhett Butler, là người ta hình dung ngay ra Clark Gable, diễn viên đóng vai nam chính, và giở cuốn truyện đọc về Scarlett O’Hara thì gần như đôi mắt nhí nhảnh của Vivien Leigh, người đóng vai nữ chính, lại hiện ra ngay tắp lự. Trong một câu chuyện ngoài lề quá trình làm phim, người ta kể lại rằng Clark Gable, đã làm việc tổng cộng 71 ngày (không liên tục) và nhận được hơn 120.000 USD tiền cát-xê (tương đương 2 triệu USD ngày nay). Trong khi đó, Vivien Leigh đã làm việc ròng rã suốt 125 ngày nhưng chỉ nhận được 25.000 USD (tương đương 418 nghìn USD bây giờ). Nếu như ở trường quay Vivien Leigh luôn điềm tĩnh và tập trung thì Clark Gable hoàn toàn ngược lại. “Nàng Scarlett” làm việc gần như 16 tiếng đồng hồ/ngày, còn chàng “Rhett Butler” cứ đúng 6 giờ chiều là đủng đỉnh ra về.

Có một lần “Nàng” thốt lên về chuyện đó: “Hệt như một gã công chức ở phòng tư vấn luật pháp”. Để trả đũa câu nói ấy, nghe đồn rằng Clark Gable thường ăn rất nhiều hành khi diễn cảnh tình tứ với Vivien Leigh.

Đó là năm 1939, năm mà bộ phim “Cuốn theo chiều gió” ra mắt. Chênh lệch giữa hai diễn viên thủ vai chính của phim là khoảng gần 5 lần.

Ngót 80 năm sau, mức chênh lệch dường như đã được rút ngắn đáng kể, it nhất là ở Phương Tây. Ví dụ như theo nghiên cứu của Trung tâm Bình đẳng Giới tại Nơi làm việc của Australia, mức lương cho nhân sự nữ thường thấp hơn khoảng 75% so với đồng nghiệp nam làm cùng một công việc cùng tính chất.

Tuy nhiên con số đó cho thấy khoảng cách thu nhập vẫn còn tồn tại giữa hai giới. Và khi thu nhập còn khoảng cách thì nhiều yếu tố khác cũng sẽ còn đầy khoảng cách.

Hệ lụy của nó là gì?

Bất bình đẳng thu nhập

Theo tính toán của hãng tư vấn hàng đầu thế giới McKinsey, GDP toàn cầu vào năm 2025 có thể tăng thêm khoảng 12 nghìn tỷ USD nếu khoảng cách giữa mức thu nhập nam và nữ được thu hẹp. Một nghiên cứu khác của OECD thì cho rằng nếu tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới mà cao bằng tỷ lệ nam giới đi làm thì GDP của các nước OECD sẽ tăng 12%.

Một phần lý do lương phụ nữ thấp hơn nam giới là vì họ đảm nhiệm những công việc hoặc những vị trí có tính chất thấp hơn các đồng nghiệp thuộc phái mạnh.

Ví dụ như tại Australia, có tới 67,9% nam giới làm việc toàn thời gian (full-time), trong khi tỷ lệ tương ứng ở phụ nữ thấp hơn một cách đáng kinh ngạc: 40,2%. Nữ giới làm việc phổ biến trong những ngành nghề bán thời gian (part-time) với khoảng 32.9%, hoặc công việc mang tính thời vụ (casual) với tỷ lệ 26,9%. Nói cách khác, cứ 10 người lao động nữ, thì chỉ có 2 người làm công việc dài hơi, chắc chắn, còn lại phải bằng lòng với công việc mang tính chất phập phù, ngắn hạn, thời vụ.

Bản thân mức thu nhập trung bình cho công việc toàn thời gian của nữ giới cũng vẫn thấp hơn 22,4% so với các đồng nghiệp nam.

Về vị trí công việc, dù là một nước Tây Phương tiên tiến, Australia vẫn chưa thể san lấp sự khác biệt giữa vai trò nam và nữ tại công sở.

Theo đồ thị này, đáng lưu ý là phụ nữ chỉ có cơ hội gần gần “bình đẳng” với nam giới ở đáy kim tự tháp với khoảng 41,9% làm ở vị trí quản lý trung cấp và sơ cấp. Họ yếu thế rõ rệt ở các nấc thang phía trên, từ quản lý cao cấp (34,9%) tới Tổng quản lý (30,4%) hay Thành viên chủ chốt (29,7%) và đặc biệt là Lãnh đạo doanh nghiệp thì tỷ lệ nữ doanh chủ chỉ teo tóp còn 16,5%.

Hệ quả của thu nhập chênh lệch dẫn tới cả sự không đảm bảo ở lưới an sinh sau này. Sau quá trình làm việc trọn đời thì tiền lương hưu của các “bà già” sẽ thấp hơn các “ông già” ngót 52,8% (Nguồn – Hiệp hội các quỹ hưu trí Australia năm 2015). Tất nhiên, về khía cạnh nào đó thì đây cũng là một phần lý do biện hộ rất vững chắc cho thói quen lục túi hoặc kiểm ví chồng của các bà lão: em đẹp (nhưng lương thấp) nên em có quyền.

Ở khía cạnh này thì lại có một câu hỏi khác nảy sinh, thu nhập cao – thấp ảnh hưởng gì trong quan hệ giữa nam và nữ?

Giới và Bất bình đẳng trong quan hệ

Sự khác biệt giữa nam và nữ có lẽ là một trong những đề tài hấp dẫn song cũng đau đầu bậc nhất trên thế giới, từ Cổ đến Kim, từ Đông sang Tây. Vậy thì khái niệm “Giới” là gì mà phức tạp đến vậy? Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thì Giới – Gender – là từ được dùng để chỉ “vai trò được cấu tạo trong xã hội, những phẩm chất, hoạt động, hành vi được xã hội xét thấy là phù hợp cho nam và nữ”.

Không hẳn chỉ dựa trên yếu tố kinh tế, mà đó còn là những mong đợi về mặt xã hội và văn hóa được ấn định (cho người nam và người nữ) từ khi còn ở một độ tuổi nhất định lúc còn trẻ. Giới, từ đó, được cấu tạo theo vai trò và trách nhiệm thông qua các hoạt động xã hội hóa. Nữ nhà văn kiêm triết gia nổi tiếng Simone de Beauvoir (1908-1986) từng nói “On ne naît pas femme, on le devient” (tiếng Anh: “One is not born, but rather becomes, woman”: (Người ta không phải sinh ra là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ). Dưới góc nhìn xã hội này thì những thuộc tính mà từ trước đến nay người ta thường quan niệm về người phụ nữ không phải là cái vốn có thuộc bản chất của người phụ nữ, mà do người đàn ông áp đặt cho phụ nữ thông qua văn hóa, giáo dục, và ngay cả người phụ nữ cũng tin rằng mình vốn yếu kém so với đàn ông.

Ta có thể lấy nhiều dẫn chứng, như trong xã hội phương Đông trước đây, người phụ nữ không được đi học, không được làm quan vì người ta quan niệm rằng phụ nữ không có khả năng đó. Ngay cả ở nhiều nước phương Tây cũng vậy, như trường hợp bà Marie Curie  người Ba Lan, do đất nước bà vẫn chưa cho phép phụ nữ được vào đại học, bà đã chọn việc sang Pháp để vào đại học ở Sorbonne và trở thành một sinh viên xuất sắc, một nhà khoa học nổi tiếng, người phụ nữ đầu tiên nhận giải thưởng Nobel về vật lý và người đầu tiên trên thế giới hai lần được giải thưởng Nobel.

Tuy nhiên, các nhận thức mang tính xã hội cũng không phải ngẫu nhiên. Vai trò của Giới bắt đầu từ niên thiếu và diễn ra suốt cuộc đời. Trẻ em học những gì cha mẹ làm, chứng kiến những xử sự của cha mẹ với nhau. Những người xung quanh cũng ứng xử khác nhau với bé trai và bé gái, củng cố thêm hành vi được phân vai, khuyến khích việc ăn mặc, nói năng, đi lại, chơi đồ chơi theo định kiến trai và gái. Từ trải nghiệm từ khi còn sớm, những ấn tượng trẻ em thu được sẽ bị thách thức hoặc được củng cố khi họ trưởng thành, thông qua trường học, việc tiếp xúc với các gia đình khác (họ hàng – bạn bè) rồi tiếp theo là đời sống xã hội và việc làm. Ngay cả truyền thông, từ ấn phẩm báo chí, truyện đọc, truyền hình, phim ảnh và sau này là internet cùng mạng xã hội cũng truyền tải những định kiến giới mạnh mẽ, cả hai mặt tiêu cực và tích cực.

Đơn cử, một cô người mẫu nổi tiếng từng phát ngôn rằng: “Không tiền cạp đất mà ăn” với hàm ý được nhiều người hiểu rằng, nếu cô ấy có phải dựa vào ai đó (thuộc phái nam) có tiền, thì cũng “có thể hiểu được”. Nếu một người mẫu nam, hay một doanh nhân trót nói ra câu này, họ sẽ bị phán xét đủ kiểu, vì xã hội cho rằng đàn ông mà ỷ nại vào đàn bà thì thật quá tệ. Một ví dụ khác, nếu một bé gái bị cậu con trai đánh, hiển nhiên thành viên nhỏ tuổi của phái mạnh bị quy kết là sai. Nhưng ở không thiếu trường hợp, bé gái đánh hoặc làm bé trai đau, rất có thể bé trai đó vẫn bị coi là sai, hoặc chắc “mày làm gì sai quấy với con gái thì mới bị đánh”. Và rồi, “thôi không thèm chấp, con trai thì nhường đi cho xong”. Cứ như thế, cho tới khi lớn lên. Thậm chí, có bị đau cũng không được phản ứng, ấy mới là phẩm chất của “kẻ quân tử”.

Nhìn vào số liệu về ngành nghề phụ nữ Australia làm ở trên đây, rất có thể nguyên nhân rất quan trọng của việc phụ nữ làm việc bán thời gian và thời vụ xuất phát từ việc họ phải dành nhiều thời gian cho gia đình, chăm sóc nhà cửa, con cái. Thật là thách thức khi nhìn vào hoàn cảnh một phụ nữ vừa phải dành 8 tiếng “thi đấu” ở công sở, vừa sắp xếp chu đáo việc cho 1 tiếng đón con, 1 tiếng tắm táp vệ sinh cho chúng, 1 tiếng nấu cơm, rồi 1 tiếng nữa dành cho dọn rửa nồi niêu xoong chảo.

Phát triển lên những vị trí cao trong xã hội, ví dụ như thăng tiến trong sự nghiệp chính trị, thì thách thức chu toàn đời sống và công việc (thuật ngữ “Tây” là “work-life balance”) lại càng khó nhằn với phụ nữ.

Một kịch bản thường thấy, ở ngoài đời, là hình ảnh của những chính trị gia quyền lực như Thủ tướng Merkel của Đức, hay cựu Thủ tướng Julia Gillard của Australia: những phụ nữ không con cái. Hình ảnh này cũng tái hiện cả ở se-ri nổi tiếng của HBO, House of Cards (Sóng gió Chính Trường, theo bản dịch của Việt Nam), thì Đệ nhất Phu nhân kiêm đối tác chính trị của Tổng thống Frank Underwoods cũng không để cho sự nghiệp của mình bị vướng bận bởi niềm hạnh-phúc-kèm-theo-sự-rầy-rà-có-mùi-bỉm-sữa (nhưng điều đó cũng có nghĩa là nhà chính trị gian hùng Frank Underwoods coi trọng sự nghiệp của mình hơn việc “nối dõi tông đường” rồi rồi còn gì).

Tuy nhiên, lại xuất hiện một nỗi niềm khác. Không thiếu người đàn ông, đặc biệt ở Phương Tây, cùng giúp vợ làm việc nhà, chia sẻ trách nhiệm nuôi dưỡng con cái một cách khá bình đẳng. Thứ văn hóa ấy đã trở nên khá bình thường, vì trẻ em Phương Tây được thấm nhuần từ khi còn nhỏ. Quen thuộc là thế, nhưng không chắc dưới con mắt của “thiên hạ”, người đàn ông đã sẵn sàng được “giải phóng” để chỉ làm-việc-nhà, hay “làm nhiều việc nhà hơn vợ”. Người đàn ông mà ở nhà làm nội trợ (dù anh ta có thể thích việc bếp núc, làm vườn, chăm sóc con cái nhé), sẽ dễ bị nhìn với con mắt khác thường hơn người phụ nữ làm cùng thứ công việc đó. Một gia đình mà vợ đi làm, có sự nghiệp riêng, còn đức ông chồng ở nhà trông con, chăm sóc nhà cửa, thì y như rằng dưới con mắt của hàng xóm, họ mạc, bạn bè, gia đình đó có thể bị coi là “có vấn đề” ngay tắp lự. Áp lực của nam giới làm trụ cột gia đình, làm mái nhà che chở vợ con, quả không phải nhỏ. 

Đến ngay cả trường hợp giả sử cả hai vợ chồng đều nghỉ việc ở nhà, khi khai bản Sơ yếu lý lịch để đi học, tới mục bố và mẹ, phổ biến là đứa trẻ sẽ ý tứ viết như sau: Bố – Hưu trí, Mẹ – Nội trợ. Ngay ở Tây, người ta cũng còn tranh cãi gần như bất tận về việc có nên gọi là housewife hay không, còn hiển nhiên chữ househusband chắc chắn không mang lại cảm giác như superhero đối với những đứa con của người bố đó rồi. Dù ngẫm cho kỹ thì chưa chắc việc thay tã, hâm nóng sữa, nấu cơm, dọn phòng, dạy chơi cờ .v.v. của người cha lại ít quan trọng với đứa con hơn là hành động đi cứu thế giới của một siêu anh hùng nào đó.

Dù ngôn ngữ chỉ là vỏ ngoài, nó cũng phản ánh những định kiến, hoặc những quy tắc xử sự được số đông công nhận. Mệt thế đấy.

À, vậy thì phải chăng định kiến đó hình thành từ thực tế là có những loại việc mà chỉ có đàn ông, hoặc chỉ có phụ nữ mới làm được?

(còn tiếp)

Advertisements